Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Skip Navigation LinksTìm Hiểu Văn Hóa

 
Tìm Hiểu Văn Hóa - Di tích lịch sử văn hóa
 
Ngày 20/6/2018, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Nguyễn Ngọc Thiện đã ký, ban hành quyết định số 2329/QĐ-BVHTTDL về việc xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia đình Long Thạnh, xã Long Định, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. 
 
Tiểu đoàn 307 – Tiểu đoàn đầu tiên của Chiến khu 8 được thành lập vào ngày 01/5/1948 tại xã Mỹ Phước, huyện Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho (nay là huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang).  
 
UBND tỉnh Bến Tre có các quyết định số: 2719/QĐ-UBND, 2720/QĐ-UBND, 2721/QĐ-UBND ngày 13 tháng 11 năm 2017 xếp hạng các di tích đình An Định (xã An Định, huyện Mỏ Cày Nam), đình Châu Hưng (xã Châu Hưng, huyện Bình Đại), đình An Hóa (xã Long Hòa, huyện Bình Đại) là di tích cấp tỉnh thuộc loại hình kiến trúc nghệ thuật gắn với tín ngưỡng dân gian.  
 
​Một số giai thoại về cụ Nguyễn Đình ChiểuTrần Hoàng HuấnDi tích Mộ và khu tưởng niệm Nguyễn Đình Chiểu. Ảnh: T.H.H.          Nhân dịp di tích Mộ và khu tưởng niệm Nguyễn Đình Chiểu được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch thống nhất chủ trương để tỉnh Bến Tre lập hồ sơ đề nghị Thủ tướng Chính phủ xem xét xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt trong năm 201... 
 
Nhằm đánh giá hiện trạng các loại hình kiến trúc tôn giáo tín ngưỡng qua các công trình tiêu biểu vùng Nam bộ; nghiên cứu giá trị văn hóa, lịch sử, phong cách kiến trúc công trình tôn giáo tín ngưỡng vùng Nam bộ; phục vụ công tác bảo tồn, quản lý, khai thác và phát huy giá trị công trình tôn giáo tín ngưỡng vùng Nam bộ, trong hai ngày 03 và 04 tháng 10 năm 2012, đoàn công tác của Viện Kiến trúc, Quy hoạch đô thị và nông thôn – Bộ Xây dựng đã đến Bến Tre để tiến hành điều tra khảo sát thực tế và được cán bộ Ban Quản lý Di tích tỉnh hướng dẫn đến các địa điểm: Mộ và đền thờ Lãnh binh Nguyễn Ngọc Thăng, đình Bình Hòa, Thất Phủ Võ miếu (chùa Ông, thị trấn Ba Tri), đình Phú Lễ, đình Tân Thạch, đình Tiên Thủy. Tại đây, đoàn đã tiến hành điều tra, chụp ảnh, vẽ ghi kiến trúc về các công trình. Đây là những công trình có niên đại lâu năm, kiến trúc nghệ thuật đẹp và còn giữ được khá nguyên vẹn cho đến ngày nay trong đó có 03 công trình đã được xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia (đình Phú Lễ, đình Bình Hòa, đình Tân Thạch), 01 công trình đang hoàn chỉnh hồ sơ đề nghị xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia (đình Tiên Thủy), 01 công trình đã được xếp hạng di tích lưu niệm danh nhân cấp quốc gia (Mộ và đền thờ Lãnh binh Nguyễn Ngọc Thăng) riêng Thất Phủ Võ miếu (chùa Ông, thị trấn Ba Tri) là một ngôi chùa của người Hoa nổi tiếng không chỉ ở Ba Tri mà cả tỉnh Bến Tre. 
 
UBND tỉnh Bến Tre có quyết định số 1815/QĐ-UBND ngày 21 tháng 9 năm 2012 về việc phê duyệt Đề án Bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị di tích Lịch sử - Văn hóa tỉnh Bến Tre đến năm 2015, định hướng đến năm 2020. 
Chùa An Linh (28/09/2012)
 
UBND tỉnh Bến Tre vừa có quyết định số 1763/QĐ-UBND ngày 13 tháng 9 năm 2012 công nhận Chùa An Linh (xã An Nhơn, huyện Thạnh Phú) là di tích cấp tỉnh về lịch sử cách mạng và tín ngưỡng tôn giáo. Từ thành phố Bến Tre theo quốc lộ 60, rồi theo đường tỉnh 888 đến thị trấn Thạnh Phú (44km), tiếp tục đi thẳng đến UBND xã An Nhơn (12km), rẽ phải vào huyện lộ 51 khoảng 500m là đến di tích. ... 
 
UBND tỉnh Bến Tre vừa có quyết định số 1764/QĐ-UBND ngày 13 tháng 9 năm 2012 công nhận Sự kiện Quân sự ngày 30/10/1967 (ấp Thạnh Trị Thượng, xã Mỹ Hưng, huyện Thạnh Phú) là di tích lịch sử - văn hóa cấp tỉnh về lịch sử cách mạng. Từ T.p Bến Tre theo quốc lộ 60, rồi đường tỉnh 888 đến Trị trấn Thạnh Phú khoảng 52km rẽ trái vào huyện lộ 25 đi 2km là đến, di tích nằm bên trái. 
 
Cụ Nguyễn Đình Chiểu tự Mạnh Trạch, hiệu Trọng Phủ, sau khi mù lấy hiệu Hối Trai, sinh ngày 1.7.1822 tại làng Tân Khánh, huyện Bình Dương, phủ Tân Bình, tỉnh Gia Định. Ông đỗ tú tài ở trường thi Gia Định năm 1843. Năm 25 tuổi, ông trở ra Huế học tập, chờ khoa thi năm Kỷ  Dậu  ( năm 1849 ) nhưng chưa kịp thi thì có tin mẹ mất. Trên đường trở về chịu tang mẹ vì quá lo buồn kh... 
                                 Cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1968 thắng lợi, làm thay đổi chiến lược toàn cầu của Đế Quốc Mỹ, “chiến tranh cục bộ” bị phá sản hoàn toàn. Mỹ phải rút quân viễn chinh về nước. Nich-xơn thay G... 
 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
Phân loại
  
  
  
  
Bến Tre được công nhận thêm 2 di sản văn hóa phi vật thể quốc giaBến Tre được công nhận thêm 2 di sản văn hóa phi vật thể quốc gia
Bộ VHTT&DL vừa ban hành Quyết định số 4069/QĐ-BVHTTDL ngày 30/10/2018 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công bố Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia gồm 8 di sản văn hóa phi vật thể. Các di sản văn hóa phi vật thể được công nhận đợt này thuộc 4 loại hình, gồm: Nghề thủ công truyền thống; Nghệ thuật trình diễn dân gian; Tập quán xã hội và tín ngưỡng; Lễ hội truyền thống.

LANG NGHE BANH PHONG.jpg
Quang cảnh làng nghề (ảnh XTDL)

Đáng chú ý, trong đợt phong tặng này tỉnh Bến Tre được công nhận thêm 2 di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia là Nghề làm Bánh tráng Mỹ Lồng (xã Mỹ Thạnh, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre) và Nghề làm Bánh phồng Sơn Đốc (xã Hưng Nhượng, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre). Tính đến thời điểm này tỉnh Bến Tre đã có  4 di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia, ngoài 2 di sản văn hóa phi vật thể quốc gia mới được công nhận, có 2 di sản văn hóa phi vật thể quốc gia là: Lễ hội Nghinh Ông Bình Thắng (Bình Đại) và Hát Sắc bùa Phú Lễ (Ba Tri)

Đây là một tín hiệu vui không chỉ cho các nghệ nhân và bà con làng nghề bánh tráng Mỹ Lồng và bánh phồng Sơn Đốc, mà là niềm tự hào của nhân dân trong toàn tỉnh. Được biết 2 làng nghề này có lịch sử hình thành cách đây hơn 100 năm và mang đậm nét đặc sắc của văn hóa ẩm thực xứ dừa…. Trong xu thế hội nhập toàn cầu hóa vấn đề bảo tồn và phát huy các giá trị bản sắc của mỗi địa phương đang là một vấn đề thời sự, trong đó vấn đề làng nghề truyền thống đang trở thành tâm điểm không chỉ của ngành bảo tồn và bảo tàng, việc bảo tồn những giá trị văn hóa phi vật thể là mục tiêu không thể thiếu. Cho nên việc phát triển du lịch gắn với làng nghề là một trong những biện pháp cơ bản, hữu hiệu giúp cho quá trình quản lý di sản văn hóa phi vật thể đạt được hiệu quả cao./.

07/11/2018 3:00 CHĐã ban hànhẨm thực11Khắc TínhYes
Đình Long Thạnh được xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật quốc giaĐình Long Thạnh được xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia
Ngày 20/6/2018, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Nguyễn Ngọc Thiện đã ký, ban hành quyết định số 2329/QĐ-BVHTTDL về việc xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia đình Long Thạnh, xã Long Định, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.
Đình Long Thạnh.JPG
Đình Long Thạnh. Ảnh: BQLDT
         
 Đình Long Thạnh tọa lạc tại xã Long Định, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre có tổng diện tích là 2.580m2. Theo truyền tụng thì vào đầu thế kỷ XIX nơi đây là vùng đất hoang hóa, rừng rậm với nhiều loài thú dữ, các bậc tiền nhân từ vùng Ngũ Quảng di dân đến đây cùng nhau khai hoang, lập ấp, phát triển nông nghiệp. Thời gian trôi qua, công cuộc khẩn hoang cơ bản đạt được nhiều thành tựu, việc mở đường, xây chợ, phát triển dân số, phát triển nông nghiệp đã đi vào ổn định, xóm làng đã trù phú, đời sống nhân dân ngày càng khá lên nên cần phải có một nơi để thờ cúng thần linh nhằm tạ ơn thần đã phù hộ cho nhân dân có cuộc sống ấm no, vạn vật tốt tươi. Ban đầu, đình được dựng lên bằng cây lá đơn sơ tọa lạc ở vị trí khác (cách vị trí hiện nay khoảng 1km). Trải qua một thời gian, nhân dân trong vùng cảm thấy không phù hợp nên Ban Khánh tiết đình cùng bà con họp lại tìm địa điểm khác để dựng lại ngôi đình. Cùng lúc đó, ông Trần Văn Trung và Huỳnh Tấn Cường, người dân trong làng hiến hai lô đất liền nhau cạnh bờ sông cho làng. Thấy vị trí này thuận lợi cho việc xây dựng lại ngôi đình nên nhân dân trong làng tổ chức di dời đình đến địa điểm mới và tồn tại đến hôm nay. Đình bắt đầu được xây dựng lại từ năm 1830 hoàn thành sau đó nhiều năm với quy mô kiến trúc lớn và bền vững hơn đình cũ và ở vị trí như hiện nay. Đình được xây dựng lại bao gồm các hạng mục: Cổng, bức bình phong, hai ngôi miếu Thổ thần, miếu Ngũ hành và các nhà: Võ ca, Tiền điện, Chánh điện, nhà Khách và nhà Tiên sư với kiến trúc chung là ba gian hai chái kết cấu cột, kèo bằng gỗ, nền lát gạch tàu, mái lợp ngói âm dương và ngói vải cá, vách gỗ, cửa gỗ. Sau khi tạo dựng khang trang, các vị bô lão trong vùng mới họp lại thống nhất làm đề nghị gửi về triều đình nhà Nguyễn xin phong sắc cho đình. Đình được sắc phong đầu tiên gồm hai sắc Đại càn quốc gia Nam Hải và Bổn cảnh thành hoàng vào ngày 27 tháng 11 năm Thiệu Trị năm thứ 5 (1845), đợt thứ hai cũng gồm hai sắc như trên được sắc phong vào ngày 26 tháng 12 năm Thiệu Trị năm thứ 5 (1845), đợt thứ ba cũng là hai sắc như trên được sắc phong vào ngày 8 tháng 11 năm Tự Đức năm thứ 3 (1850) (đình có tất cả 6 sắc phong).
 Ngôi đình tuy không đồ sộ nhưng các đồ án trang trí trên các công trình điêu khắc gỗ cộng với các hiện vật còn lưu giữ như: Bao lam, khánh thờ, hoành phi, long trụ, long đình, câu đối, ...đã nâng cao giá trị nghệ thuật cho ngôi đình. Các đồ án trang trí này thể hiện sự độc đáo, sắc sảo, tài hoa của những người thợ thủ công bậc thầy qua các đề tài: Dơi, hoa mẫu đơn, cuốn thư, chuột, chim, tứ quý (mai - lan - cúc - trúc), tứ linh (long - lân - qui - phụng), tùng - lộc, mai - hạc,.. Hiện tại đình còn lưu giữ nhiều hiện vật bằng gỗ có niên đại hàng trăm năm, rất có giá trị, tiêu biểu như: Bốn cuốn thư, hai cặp long trụ, một long đình, mười hoành phi, hai bộ lỗ bộ, bốn đôi liễn áp cột, sáu sắc phong, sáu hương án, năm khánh thờ, ba bao lam,... Các liễn áp cột, hoành phi, câu đối, khánh thờ, long trụ, long đình,... được trang trí công phu, sống động. Các câu chữ ở liễn, hoành phi được thể hiện trên nền là long phụng bay lượn, chim muông hoa lá,… đều được sơn son thếp vàng. Đây là công trình kiến trúc nghệ thuật tập trung nghệ thuật điêu khắc: Chạm nổi, chạm ẩn, chạm lộng, chạm hai lớp, đục, chạy chỉ, tiện,... ở một trình độ kỹ thuật cao của nghề chạm khắc gỗ Việt Nam đầu thế kỷ 20. Đình Long Thạnh đã qua nhiều lần trùng tu, tôn tạo nhưng quy mô nhất là vào năm 1900, hoàn thành vào năm 1902 với quy mô và kiến trúc như hôm nay.

Nội thất đình.JPG
Nội thất đình Long Thạnh. Ảnh: BQLDT

 Đình ngoài giá trị về vật thể còn có giá trị về phi vật thể. Các lễ hội của đình được bảo đảm các yếu tố truyền thống với chủ lễ, lễ sinh, các bài văn tế, tàn, lộng, thỉnh sắc,...và ba năm thì mời hát bội một lần. Vào các ngày này, nhân dân trong vùng tề tựu về cùng quây quần bên nhau để thưởng thức các vở hát bội truyền thống, cùng hàn huyên, kể lại thời ông cha đi mở đất. Đây là một công trình kiến trúc điêu khắc gỗ nên việc giữ gìn các tác phẩm nghệ thuật này đòi hỏi phải có sự đầu tư qui mô lớn về nhiều mặt nhất là kinh phí. Vì vậy, cần phải có sự quan tâm đầu tư của Nhà nước và sự đóng góp của các tầng lớp nhân dân trong và ngoài tỉnh để bảo tồn và phát huy giá trị nghệ thuật của di tích nhằm giáo dục giá trị thẩm mỹ cho các thế hệ hôm nay và mai sau kết hợp với các di tích khác trong vùng hình thành tour, tuyến du lịch trong tương lai. Đặc biệt, đây là xã đầu tiên ở tỉnh Bến Tre có hai ngôi đình được xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia (đình Long Phụng và đình Long Thạnh). Vì thế, chúng ta có thể kêu gọi các mạnh thường quân, các doanh nghiệp đầu tư kinh phí xây dựng tour du lịch sinh thái kết hợp với tâm linh cùng với chùa Thiên Thọ (di tích cấp tỉnh), phà Tam Hiệp (trước cổng đình) để tham quan vườn cây ăn trái và các di tích của xã Long Định.
  Khu vực bảo vệ di tích được xác định theo biên bản và bản đồ khoanh vùng các khu vực bảo vệ di tích trong hồ sơ. Ngoài ra, Quyết định cũng yêu cầu Ủy ban nhân dân các cấp nơi có di tích được xếp hạng trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của mình thực hiện việc quản lý nhà nước đối với di tích theo quy định của pháp luật về di sản văn hóa.
  Như vậy hiện nay, tỉnh Bến Tre có 02 di tích quốc gia đặc biệt, 16 di tích quốc gia và 43 di tích cấp tỉnh.
09/08/2018 10:00 SAĐã ban hànhDi tích lịch sử văn hóa200Trần Hoàng HuấnNo
Danh tiếng Tiểu đoàn 307 “Oai hùng biết mấy, đánh đâu được đấy”Danh tiếng Tiểu đoàn 307 “Oai hùng biết mấy, đánh đâu được đấy”
Tiểu đoàn 307 – Tiểu đoàn đầu tiên của Chiến khu 8 được thành lập vào ngày 01/5/1948 tại xã Mỹ Phước, huyện Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho (nay là huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang).

Tuy không phải là nơi thành lập Tiểu đoàn 307, nhưng Bến Tre rất đổi tự hào là nơi xuất quân của Tiểu đoàn, đến nay năm tháng đã trôi qua 70 năm nhưng sự kiện ra đời và xuất quân vào ngày 05/7/1948 của Tiểu đoàn tại ấp Giồng Luông, xã Đại Điền, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre vẫn luôn được các cựu binh ngày ấy ôn lại và giáo dục truyền thống cho các thế hệ tỉnh nhà. Ngay sau Lễ xuất quân, Tiểu đoàn 307 đã đánh nhiều trận và liên tục lập nên nhiều chiến công vang dội, làm “bao nhiêu quân Pháp run rẩy, sợ hải”, những chiến tích anh hùng của Tiểu đoàn trong sự nghiệp kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ cứu nước mãi mãi khắc ghi vào tâm khảm của mỗi người Việt Nam và ghi vào lịch sử hào hùng của dân tộc Việt Nam anh hùng.

Trao bằng di tích cấp tỉnh nơi xuất quân tiểu đoàn 307.JPG
Trao Bằng công nhận Di tích cấp tỉnh
 Nơi xuất quân Tiểu đoàn 307 tại ấp Giồng Luông, xã Đại Điền, huyện Thạnh Phú (Ảnh TKD)

Lần giở lại những trang sử hào hùng của đất nước ta, sau Cách mạng mùa Thu Tháng Tám năm 1945 thành công không lâu giặc Pháp quay lại đánh chiếm nước ta lần thứ hai với hành động dã man hơn, ác liệt hơn, chúng tập trung xây dựng đồn bót, các cứ điểm lớn, sau đó tổ chức lực lượng cơ động, cấp tiểu đoàn để chi viện cho các đồn bót bị quân ta tấn công, chúng cho rằng làm như vậy sẽ vô hiệu hóa quân du kích với vũ khí thô sơ không đánh vào được, là nơi bất khả xâm phạm. Trong khi chúng ta muốn hòa giải, nhượng bộ để tìm cách đối phó thì thực dân Pháp càng lấn tới, hòng chiếm nước ta. Trước tình hình khẩn thiết đó, đêm 19/12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt Đảng và Chính phủ phát lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, toàn dân kháng chiến quyết tâm cao cho việc đánh đuổi giặc pháp xâm lược, Bác kêu gọi: “Hỡi anh em binh sỹ, tự vệ, dân quân. Giờ cứu nước đã đến. Ta phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng để gìn giữ đất nước. Dù phải gian khổ kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết, thắng lợi nhất định về dân tộc ta…”. Tiếp đến Trung ương Đảng tiếp tục ra Chỉ thị không để cho giặc Pháp đem hết của cải lấy được ở Nam bộ ra đánh Trung - Bắc bộ mà Nam bộ còn phải làm cản trở thêm khó khăn cho chúng, Bộ Tư lệnh Khu 8 chỉ đạo xây dựng Tiểu đoàn chủ lực cơ động đánh địch cấp khu để bọn chúng không được càn quét, giết hại dân chúng dã man, tàn ác ở khắp mọi miền đất nước. Hưởng ứng và đáp lời kêu gọi của Trung ương, Tiểu đoàn 307 ra đời được trang bị đầy đủ hơn về vũ khí và chiến thuật chủ động đánh địch giành thắng lợi.

Đối với địa bàn Bến Tre từ giữa năm 1947 đã tăng cường thêm cán bộ, chiến sỹ cho Chi đội 19 thành lập Trung đoàn chủ lực 99 do đồng chí Đồng Văn Cống làm Trung đoàn Trưởng, đồng chí Đỗ Huy Rừa làm Trung đoàn phó. Khi Tiểu đoàn 307 thành lập thì Trung đoàn phó Đỗ Huy Rừa được điều động về đảm nhiệm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 307. Và Bến Tre rất vinh dự khi được Bộ tư lệnh Quân khu 8 chọn là nơi huấn luyện quân sự của Tiểu đoàn khi được thành lập tại các xã thuộc huyện Mỏ Cày và Thạnh Phú. Sau hơn hai tháng được nhân dân đùm bọc, cưu mang và được trang bị đầy đủ hơn về kỹ thuật chiến đấu, cách đánh của đơn vị chủ lực, thống nhất về ý chí, kỷ luật, tư thế và tác phong của người chiến sỹ để đến ngày 5/7/1948 buổi lễ xuất quân được tổ chức trọng thể, không chỉ lãnh đạo của Khu 8, cán bộ chiến sĩ Tiểu đoàn 307 mà còn có sự tham dự đông đủ của cả nhân dân hai huyện Mỏ Cày và Thạnh Phú tại Giồng Luông, xã Đại Điền, Thạnh Phú.

Những lời thề vang vọng trong buổi xuất quân năm ấy của các chiến sĩ Tiểu đoàn 307: Xin thề “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, “Người chiến sĩ tiếc gì máu rơi”; “Nguyện một lòng giữ vững non sông”, lời thề vang vọng khắp núi sông đã được thấm sâu tâm trí, trở thành máu thịt của mỗi cán bộ, chiến sĩ khi hành quân ra mặt trận và đến hôm nay chúng ta như vẫn còn nghe. Những chiến thắng vang dội khắp nơi như: Trận Tháp Mười, trận Mộc Hóa, vang tiếng đồn với trận La Bang… làm quân Pháp run rẩy, sở hãi và thất bại thảm hại là những chiến thắng oanh liệt từ buổi đầu ra quân vẫn còn vang vọng mãi đến ngày hôm nay và mai sau.

Sau chiến dịch trên địa bàn Trà Vinh năm 1950 các chiến sỹ của Tiểu đoàn 307 đã trở về Bến Tre phối hợp cùng bộ đội địa phương với những trận đánh lớn nhỏ tại Rạch Mỏ Cày, Giồng Keo, Tân Hương, Minh Đức thắng lợi lớn, bắt sống 200 tên địch, thu 70 súng trong đó có 09 trung liên, diệt gọn 02 đại đội địch, ảnh hưởng lớn cả vùng giải phóng Cù lao Minh, sau trận này khí thế cách mạng lên rất cao, có hơn 200 thanh niên tình nguyện nhập ngũ vào Tiểu đoàn 307. Nơi đâu có Tiểu đoàn 307 đến và tiếng súng tấn công giặc của Tiểu đoàn 307 thì ở đó tinh thần nâng lên gấp bội, tinh thần chiến đấu gan dạ, dũng cảm, anh dũng, ngoan cường của Tiểu đoàn cứ lưu truyền mãi đã trở thành sức mạnh vô địch đánh bại mọi kẻ thù. Tiểu đoàn 307 được toàn dân yêu thương quý mến, đùm bọc, chở che như người thân ruột thịt của gia đình, và được lưu truyền trong dân gian, trong sử sách qua thế hệ này đến thế hệ khác. Trong thế hệ Hồ Chí Minh quân dân ta quyết đánh và đánh thắng hai kẻ thù hùng mạnh nhất thế giới đó là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, có Tiểu đoàn 307 đánh đâu được đấy, oai hùng biết mấy, lừng lẫy khắp vùng Khu 8, tập kết ra Bắc tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ, góp phần làm nên “Chín năm làm một Điện Biên/ Nên vành hoa đỏ, nên thiêng sử vàng” lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu; góp phần tạo nên điều kiện quan trọng để nước ta giành thắng lợi lớn trên bàn đàm phán Hiệp định Giơneovơ.

Đến khi đế quốc Mỹ nhảy vào thay chân Pháp bình định miền Nam, đánh phá miền Bắc ác liệt hơn, để không còn nơi chi viện mạnh mẽ cho chiến trường miền Nam, năm 1967 Tiểu đoàn 307 một lần nữa tái lập trên chiến trường Quân khu 9 thuộc trung đoàn 1 sư đoàn 330, tiếp bước truyền thống cha, anh cùng với quân dân cả nước đấu tranh đến thắng lợi hoàn toàn năm 1975, để Bắc – Nam sum họp một nhà. Với những chiến công, thành tích to lớn đó của Tiểu đoàn 307 đã được nhân dân mến mộ, Đảng, Nhà nước ghi công và đã trao tặng danh hiệu cao quý anh hùng lực lượng vũ trang trong thời kỳ chống Mỹ, anh hùng trong thời kỳ chống Pháp.

Nhớ lại cách đây 30 năm ngày 5/7/1988, Bộ Tư lệnh Quân khu 9 và Tỉnh ủy Bến Tre đã long trọng tổ chức kỷ niệm 40 năm ngày xuất quân Tiểu đoàn 307, đồng chí Trung tướng Nguyễn Văn Tiên, nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 307 trao lá cờ truyền thống cho Tiểu đoàn 2, Trung đoàn I, Sư đoàn 330, là đơn vị tiếp nối truyền thống Tiểu đoàn 307 hiện nay. Nhắc lại điều đó để thấy rằng truyền thống Tiểu đoàn 307 luôn sáng ngời sống mãi với thời gian. Đảng bộ và nhân dân Bến Tre, Đảng bộ và nhân dân các tỉnh trong vùng Đồng bằng sông Cửu Long luôn ghi nhớ mãi công lao to lớn của Tiểu đoàn 307 anh hùng đã từng chia ngọt sẻ bùi, đồng cam cộng khổ kháng chiến trường kỳ giành độc lập tự do cho dân tộc, sẵn sàng hy sinh, không tiếc gì máu rơi, nguyện một lòng gìn giữ non sông. Chúng ta mãi mãi tri ân những chiến sĩ Tiểu đoàn 307, những anh hùng liệt sĩ đã anh dũng hy sinh để cho quê hương đất nước nở hoa độc lập, kết trái tự do như ngày hôm nay.

Lễ khánh thành bia lưu niệm 307.JPG
Lễ khánh thành Bia lưu niệm - Nơi xuất quân Tiểu đoàn 307
và thành lập Tiểu đoàn 310 (Ảnh TKD)

Tại mảnh đất Bến Tre Đồng Khởi, nơi đây ấp Giồng Luông, xã Đại Điền, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre được sự đóng góp tích cực của các đơn vị, cá nhân trong xây dựng công trình Bia lưu niệm nơi xuất quân của Tiểu đoàn 307 (5/7/1948 – 5/7/2018) thêm phần khang trang hơn, xứng đáng với tầm vóc của các chú, các anh, lớp người đi trước đã cống hiến. Đây là nghĩa cử cao đẹp nhất của những người còn sống đối với sự cống hiến của lớp người đi trước, qua đó nhắc nhở các thế hệ con cháu hôm nay và mai sau về truyền thống hào hùng của dân tộc ta trong đấu tranh gìn giữ quê hương đất nước, chiến đấu và chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược, quyết tâm xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam, tất cả vì sự nghiệp “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Trong những ngày tháng 7 lịch sử này, xin kính cẩn nghiêng mình - thấp nén hương lòng trước anh linh những người con anh hùng của đất nước, quê hương, trong đó có những chiến sỹ Tiểu đoàn 307 đã anh dũng chiến đấu hy sinh, để mọi người được hưởng độc lập, tự do để màu cờ đỏ sao vàng của Tổ quốc Việt Nam luôn rực rỡ, thắm tươi tung bay trong bầu trời lộng gió.

                                                                          Phòng QLVH

28/07/2018 5:00 CHĐã ban hànhDi tích lịch sử văn hóa196No
Lung linh sắc màu hoa giấy Phú SơnLung linh sắc màu hoa giấy Phú Sơn
Phú Sơn là một trong 11 xã, thị trấn thuộc huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre. Địa bàn xã có 06 khu dân cư với những tên gọi rất đẹp: Lân Đông, Lân Tây, Lân Nam, Lân Bắc, Phú Hiệp và Mỹ Sơn Tây. Trên địa bàn xã hiện có có 05 "Làng nghề cây giống – hoa kiểng"; 07 Tổ hợp tác sản xuất cây giống, hoa kiểng.

Từ lâu Phú Sơn đã có thế mạnh về nghề truyền thống ươm, ghép cây giống và nhiều năm qua Phú Sơn phát triển sản phẩm hoa kiểng: Cây mai vàng, kiểng bon sai, hoa cúc, hoa vạn thọ, hoa treo, hoa mồng gà… và đặc biệt là sản phẩm cây bông giấy (còn gọi là hoa giấy) nhiều màu sắc, rất bắt mắt.

Cây hoa giấy là sản phẩm đặc thù của xã Phú Sơn, do bàn tay khối óc và trên 30 năm kinh nghiệm làm nghề, truyền nghề của nông dân xã Phú Sơn đã giúp nghề truyền thống làm hoa giấy đã trở thành "Làng nghề hoa giấy" (chủ yếu ở ấp Lân Đông) và phát triển lan ra một số xã lân cận khác cũng thuộc huyện Chợ Lách (Vĩnh Hòa, Vĩnh Thành, Long Thới và Hưng Khánh Trung B), giúp cho người dân có thu nhập tăng lên. "Làng nghề hoa giấy" xã Phú Sơn được hình thành từ Tổ hợp tác sản xuất có 41 hộ tham gia với sản lượng 500.000 sản phẩm/năm, hiện nay đã tăng lên gần 300 hộ, với hàng ngàn sản phẩm hoa giấy đặc sắc phong phú sắc màu cung ứng cho thị trường trong, ngoài tỉnh trong các dịp lễ, tết. Sự phát triển "Làng nghề hoa giấy" ở xã Phú Sơn đã tạo việc làm thường xuyên cho rất nhiều lao động tại địa phương, giúp đời sống kinh tế của người dân xã Phú Sơn nâng lên đáng kể.

Theo tài liệu khoa học kỹ thuật nói về các loài hoa, cũng như nghiên cứu của giới sành điệu chuyên nghiên cứu và trồng nhiều loài hoa, cây hoa giấy thuộc họ cây leo, thân cây lúc nào cũng đầy gai góc, nhưng hoa của nó lại rất mỏng manh, mộc mạc, đơn sơ giản dị. Cây hoa giấy là loài hoa mang sức sống mãnh liệt và rất dễ trồng, dễ chăm sóc, chịu được đất khô cằn, chịu nóng tốt và cây luôn nở  hoa quanh năm với đủ màu sắc rực rỡ, bung ra cả cây, nhìn vào không thấy lá đâu mà chỉ thấy những chùm hoa khoe sắc. Cây hoa giấy có thể trồng vào chậu tạo dáng, tạo thế làm kiểng hoặc có thể trồng trong vườn nhà cho cây leo giàn, trồng trước cổng ngõ, trồng quanh hàng rào; thân cây hoa giấy lúc nào cũng vươn cao để có thể đưa cành hoa của mình vươn xa đón ánh nắng hồng, đón ngọn gió ấm và đung đưa theo chiều gió. Nhiều ý kiến cho rằng cây hoa giấy không chỉ dùng để làm cảnh và trang trí mà còn được xếp vào loại cây hoa mang ý nghĩa phong thủy, giúp cho gia chủ luôn may mắn, hạnh phúc, phát tài, phát lộc; làm cho trong lành không khí, cảnh quan tươi đẹp,.... Cây hoa giấy không sang trọng, sinh trưởng rất mạnh mà cũng rất dễ nhân giống, cũng vì thế mà khi nhắc đến cây hoa giấy người ta thường nghĩ đến nó tượng trưng cho một tình yêu mộc mạc, đơn sơ. Người ta còn cho rằng  hoa giấy có những cánh hoa khắng khít vào nhau là yếu tố gắn kết chặt chẽ giữa các thành viên trong gia đình và tổ chức, tạo sự gần gũi, bình yên, sự sung túc, may mắn. Trong phong thủy có một số quan niệm cho rằng cây hoa giấy có ý nghĩa xua đuổi, ngăn chặn tà khí, mang đến cho mỗi căn nhà không gian bình yên. Có thể nói, vì những giải thích vừa nêu về cây hoa giấy mà ở nước ta cây hoa giấy được trồng phổ biến từ vườn nhà, cổng ngõ cho đến công viên, trường học, bệnh viện,...

Chăm sóc hoa giấy tại Phú Sơn.JPG
Chăm sóc sản phẩm hoa giấy nhiều màu sắc tại xã Phú Sơn
để phục vụ vào dịp Tết Nguyên đán hàng năm (Ảnh TTr)

Theo lời kể của một nông dân có thâm niên làm nghề truyền thống cây hoa giấy tại "Làng nghề hoa giấy" ở ấp Lân Đông, xã Phú Sơn kể lại: gia đình anh làm nghề trồng hoa giấy từ những năm 1965 và đem bán ngoài ở các tỉnh miền Đông; anh tiếp nối nghề truyền thống của gia đình, anh khẳng định cây hoa giấy giúp người dân thu nhập ổn định, thậm chí làm giàu. Như vậy, cây hoa giấy được người dân xã Phú Sơn sản xuất nó từ rất lâu và thời ấy chưa có nhiều hộ làm cây hoa giấy như hiện nay. Nhưng gần đây lại có tin đồn thất thiệt về cây hoa giấy, có xử lý phân, thuốc ảnh hưởng đến sức khỏe con người, nên cây hoa giấy tiêu thụ hơi chậm. Vì vậy, nông dân tại "Làng nghề hoa giấy" xã Phú Sơn đề nghị ngành chức năng nên có giải pháp hỗ trợ nông dân về phân, thuốc có nhãn hiệu, thương hiệu (vì hiện nay lẫn lộn phân, thuốc giả); lập đường dây nóng và kỹ sư để hỗ trợ, giúp đỡ, tư vấn cho người dân "Làng nghề hoa giấy" khi sản xuất gặp vướng mắc về kỹ thuật, cũng như phản ánh về vật tư không đảm bảo trong sản xuất.

Nằm trong chuỗi hoạt động trước thềm Xuân Mậu Tuất năm 2018, đồng thời để thông tin đến mọi người biết về sản phẩm hoa nở, chủ yếu là cây hoa giấy tại xã Phú Sơn, cũng như giải tỏa phần nào những tin đồn thất thiệt về cây hoa giấy, ngày 04/02/2018 Ủy ban nhân dân xã Phú Sơn tổ chức "Hội thảo quảng bá, trưng bày sản phẩm hoa nở" tại ấp Lân Đông, nơi sản xuất ra nhiều hoa giấy lung linh với nhiều màu sắc. Nội dung Hội thảo chủ yếu nói về cây hoa giấy và có sự tham gia của Giáo sư – Tiến sĩ Vũ Gia Hiền, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Ứng dụng Văn hoá – Du lịch tại Tp. Hồ Chí Minh. Ông Hiền trân trọng người dân Phú Sơn đã có nhiều kinh nghiệm từ thực tế sáng tạo cấy, tháp và áp dụng khoa học kỹ thuật để cây hoa giấy trổ hoa đúng ý người, với nhiều màu sắc khác nhau trông rất tuyệt. Ông đã đến xã Phú Sơn khám phá, trải nghiệm không ít lần và ông cho rằng đây là "con đường hoa giấy" đẹp nhất nước, đến đây ông cứ ngỡ mình lạc vào núi, rừng hoa giấy. Nghiên cứu và giải thích về loài hoa giấy ông nói đây là loài hoa trồng bằng cành, không trồng bằng hạt, là loài hoa không nhân quả, là hoa phong thủy và của sự linh thiêng, nên người ta chọn trồng nó ở gốc đường, một gốc trong sân nhà, cổng nhà… và tổ chức, cá nhân nào tung tin đồn thất thiệt về cây hoa giấy ngành chức năng (pháp luật) cần vào cuộc làm rõ và xử lý nghiêm những kẻ âm mưu phá hoại kinh tế của người dân nói riêng, địa phương nói chung.

GSTS Vũ Gia Hiền.JPG
Giáo sư – Tiến sĩ Vũ Gia Hiền, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và
Ứng dụng Văn hoá – Du lịch tại Tp. Hồ Chí Minh chia sẻ thông tin về hoa giấy (Ảnh TTr)

Cùng tham gia buổi "Hội thảo quảng bá, trưng bày sản phẩm hoa nở" tại xã Phú Sơn có phóng viên, nhà báo công tác ở Tp. Hồ Chí Minh, nhà doanh nghiệp… và nhà thơ Thục Nguyên lần đầu tiên tận mắt chứng kiến, ngắm nhìn hoa giấy nở, nhà thơ diễn tả cảm giác êm đềm, mỏng manh, nhẹ nhàng và càng ngắm nhìn càng thấy loài hoa giấy thanh lịch lắm, nhà thơ ngỡ ngàng, xuýt xoa cảm hứng sáng tác 04 câu thơ tặng cho nông dân "Làng nghề hoa giấy" Phú Sơn: "Bừng nở huy hoàng hoa giấy ơi!/ Hồng, cam, trắng, đỏ rạng rỡ đời/ Đơn sơ dáng lụa tình vương vấn/ Nhụy trắng lung linh thắm lòng người". Các đại biểu đến từ Tp. Hồ Chí Minh, các phóng viên báo, đài tỉnh, huyện sẽ truyền đi thông điệp phản bác lại thông tin xuyên tạc, tin đồn thất thiệt về cây hoa giấy ở xã Phú Sơn, để giúp nông dân "Làng nghề hoa giấy" an tâm, tiếp tục sản xuất ra nhiều hoa giấy mang nhiều màu sắc linh lung rực rỡ, làm đẹp cho đời…

Gửi gấm trong buổi buổi Hội thảo, người dân "Làng nghề hoa giấy" Phú Sơn mong muốn ngành chức năng hỗ trợ, hướng dẫn, tạo điều kiện để "Làng nghể hoa giấy" Phú Sơn có thương hiệu trên thị trường. Và tại Hội thảo người dân trồng cây hoa giấy cũng được thông tin từ ngành chức năng đó là: muốn tạo thương hiệu trước hết người dân sản xuất phải tự tạo ra nhãn hiệu; tiếp tục phát huy, sưu tầm, lai tạo, cấy ghép, tạo dáng hoa giấy, trong sản xuất không sử dụng phân, thuốc làm ảnh hưởng đến sức khỏe con người; đoàn kết, chia sẻ kinh nghiệm trong sản xuất, không dấu nghề, quảng bá hình ảnh "Làng nghề hoa giấy" gắn với phát triển du lịch tại địa phương. Tin rằng cây hoa giấy Phú Sơn sẽ tạo được uy tín, thương hiệu trên thị trường và "Làng nghề hoa giấy" Phú Sơn sẽ là điểm đến hấp dẫn để du khách khám phá, trải nghiệm cùng với người nông dân sản xuất loài hoa đẹp trang điểm cho đời. 

Sản phẩm hoa giấy phú Sơn.JPG
Sản phẩm cây hoa giấy được tạo dáng kiểng bon sai tại "Làng nghề hoa giấy" Phú Sơn (Ảnh TTr)

                                                                                             Thanh Trúc


08/02/2018 2:00 CHĐã ban hànhLàng nghề362Đỗ Thị Thanh TrúcNo
Thêm 3 di tích lịch sử-văn hóa cấp tỉnh được xếp hạng Thêm 3 di tích lịch sử-văn hóa cấp tỉnh được xếp hạng
UBND tỉnh Bến Tre có các quyết định số: 2719/QĐ-UBND, 2720/QĐ-UBND,  2721/QĐ-UBND ngày 13 tháng 11 năm 2017 xếp hạng các di tích đình An Định (xã An Định, huyện Mỏ Cày Nam), đình Châu Hưng (xã Châu Hưng, huyện Bình Đại), đình An Hóa (xã Long Hòa, huyện Bình Đại) là di tích cấp tỉnh thuộc loại hình kiến trúc nghệ thuật gắn với tín ngưỡng dân gian.

Theo truyền tụng, đình An Định được xây dựng năm 1803 trên diện tích khoảng 5.000 m2 bởi lớp cư dân đầu tiên đến vùng đất này khai cơ lập nghiệp. Ông Cao Thái Ri – một người dân trong làng đã hiến tặng phần đất xây dựng và đình mang tên đình làng An Định cho đến ngày nay. Lúc đó ngôi đình được xây cất đơn sơ chỉ là mấy gian nhà lá bằng gỗ tạp. Người đứng ra xây dựng ngôi đình là ông Lê Phú Hữu, được phong là tiền hiền và được thờ cúng trong đình cho đến ngày nay. Đến năm 1817 mới xây lại khang trang với hệ thống cột, kèo, rui, hoành phi, liễn đối, khánh thờ, bàn thờ… bằng gỗ quý. Vào ngày 29/11/1852, vua Tự Đức ban sắc phong thần Thành Hoàng bổn cảnh cho đình An Định. Vào những năm kháng chiến chống Pháp, đình là nơi đi về, chở che cho một số cán bộ hoạt động bí mật. Năm 1946, hưởng ứng lời kêu gọi của tỉnh trong phong trào "Tuần lễ vàng", đình đã hiến một số vật dụng quý giá như đại hồng chung, bộ lư đồng, mâm thau…cho công trường để làm công cụ kháng chiến. Cũng trong thời gian này, đình An Định đã ủng hộ Sở Y tế quân dân Nam bộ hoạt động tại đây, là nơi tổ chức các khóa huấn luyện y tá phục vụ công tác cứu chữa, chăm sóc thương bệnh binh không chỉ trong tỉnh mà cả ngoài tỉnh làm giảm đi những thương vong, mất mát do chiến tranh gây ra, giải quyết vấn đề về nhu cầu nhân lực cho ngành y tế đang rất hạn chế lúc bấy giờ. Đến năm 1994, Ban liên lạc truyền thống quân dân y phía Nam đã có thư cảm ơn Ban Khánh tiết đình đã hết lòng giúp đỡ cho Sở Y tế quân dân Nam bộ lập nhiều thành tích, được Bác Hồ tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba. Trong chiến tranh đình An Định bị giặc tàn phá mất đi nhà võ ca nhưng may mắn vẫn còn giữ lại được nguyên vẹn ngôi chánh điện. Hiện nay, ngôi đình đã tôn tạo, sửa chữa lại khá hoàn chỉnh. Đình An Định là di tích kiến trúc nghệ thuật gắn liền với tín ngưỡng dân gian. Với bề dày lịch sử gần 220 năm xây dựng và phát triển, trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, chứng kiến biết bao thăng trầm của lịch sử, đình vẫn còn nguyên vẹn. Đây là nơi đã và đang gửi gắm ước mơ về một cuộc sống ấm no, hạnh phúc của người dân đến các bậc tôn kính đồng thời cũng là nơi sinh hoạt văn hóa, kết nối cộng đồng ở địa phương. Lễ hội ở đình trở nên thiêng liêng và có sức cộng cảm, trở thành nét văn hóa đặc sắc của dân tộc. Văn hóa đình thuộc văn hóa dân gian là nét đẹp văn hóa và là di sản quý của địa phương, của dân tộc cần được giữ gìn, phát huy. Hiện nay, đình còn lưu giữ nhiều liễn áp cột, hoành phi, cột, kèo bằng gỗ có giá trị nghệ thuật cao. Đình An Định là một tác phẩm mỹ thuật đậm nét chân quê của vùng đất Nam bộ.

IMG_3645.JPG
Đình Châu Hưng. Ảnh BQLDT

          Đình Châu Hưng ban đầu được tạo dựng bằng cây lá đơn sơ ở vị trí khác vào năm 1846 ở gần sông Ba Lai. Trải qua thời gian dài tồn tại, đình bị sạt lỡ nhiều và bị xuống cấp. Vì thế, ông Võ Văn Qui, một người dân trong làng hiến 5.000m2 đất ở vị trí hiện nay để di dời đình và ông cũng chủ trì việc di dời đến địa điểm mới vào năm 1942. Đình được xây dựng bằng vách gỗ, cột gỗ, nền lợp ngói âm dương. Trải qua 10 năm, đến năm 1952, đình bị xuống cấp: cột kèo mục, vách hư hỏng,...Vì thế, ông Nguyễn Văn Khải, cháu nội rể ông Võ Văn Qui đứng ra khởi xướng việc trùng tu ngôi đình và vận động nhân dân trong vùng đóng góp tài lực và vật lực để xây dựng lại ngôi đình. Vì vậy, ngôi đình có diện mạo khang trang và uy nghi như hôm nay. Nhiều hiện vật liên quan trong đình cũng được nhân dân phụng cúng trong dịp này như; hoành phi, liễn đối, hương án, khánh thờ,... Đình có 01 đạo sắc phong được phong vào thời Tự Đức ngũ niên. Đình Châu Hưng là một công trình kiến trúc nghệ thuật còn khá nguyên vẹn ở huyện Bình Đại. Trải qua hàng trăm năm tồn tại, đình vẫn uy nghi giữa vùng quê yên bình, trù phú. Hàng năm, đình đón tiếp nhiều khách hành hương trong và ngoài tỉnh về viếng thăm, chiêm bái. Ngoài ra việc xếp hạng di tích cấp tỉnh còn tạo điều kiện cho việc bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị của di tích để giáo dục thẩm mỹ cho các thế hệ hôm nay và mai sau, phục vụ tốt hơn các nhu cầu ngày càng cao của khách tham quan trong và ngoài tỉnh góp phần phát triển du lịch của tỉnh nhà nói chung và huyện Bình Đại nói riêng.

DSC_0344.JPG
Cổng đình An Hóa. Ảnh BQLDT

          Đình An Hóa được xây dựng lúc nào không ai nhớ, chỉ biết đình được sắc phong năm 1852. Theo nhiều vị cao niên kể lại, vị trí đầu tiên của đình không đắc địa nên dời ra ấp Long Thạnh để có được thế "Nhất cận thị, nhị cận giang". Sau một thời gian, kênh An Hóa bị sạt lở, đình có nguy cơ bị sụp xuống lòng sông, nên năm 1959, đình phải dời lại vị trí ban đầu cho đến hiện nay. Đình An Hóa với lối kiến trúc truyền thống, những tác phẩm điêu khắc mang đầy tính nghệ thuật cùng với một không gian cảnh quan đẹp và hài hòa xứng đáng là một viên ngọc quý trong quần thể di tích đình chùa của tỉnh. Xét về giá trị thẩm mỹ, đình An Hóa là sự tổng hòa giữa nét đẹp cổ kính (mái ngói âm dương, cột gỗ, điêu khắc dân gian...) với lối kiến trúc hiện đại kiên cố (tường vôi xi măng, hàng rào bê tông...). Dù vậy, nét tân thời cũng không làm mất đi tính truyền thống của ngôi đình, mà còn góp phần gìn giữ, bảo vệ ngôi đình đứng vững trước sự tác động của môi trường. Hơn hết ngôi đình là một di sản văn hóa về tinh thần uống nước nhớ nguồn và đoàn kết dân tộc. Đình là ngôi nhà chung của cộng đồng dân cư vào những dịp lễ quan trọng. Bên cạnh đó, đây là nơi người đi xa trở về để gửi gắm tâm tư nguyện vọng cầu an cho một cuộc sống đủ đầy. Tựu trung, đình An Hóa là một di sản của địa phương được nhân dân đề cao và trân trọng, đó là nơi gửi gắm về tinh thần và là dấu ấn ăn sâu vào tiềm thức của bao thế hệ.

          Ngoài ra, các quyết định xếp hạng di tích cũng giao cho Ủy ban nhân dân các cấp nơi di tích tọa lạc thực hiện quyền quản lý nhà nước đối với di tích lịch sử văn hóa theo quy định của Luật Di sản văn hóa.

                                                                                                (Theo Hồ sơ di tích)

05/12/2017 3:00 CHĐã ban hànhDi tích lịch sử văn hóa474Trần Hoàng HuấnNo
Một số giai thoại về Cụ Nguyễn Đình ChiểuMột số giai thoại về Cụ Nguyễn Đình Chiểu

Một số giai thoại về cụ Nguyễn Đình Chiểu

Trần Hoàng Huấn

Description: E:\2016\Hoàng Huấn\IMG_4201.jpg

Di tích Mộ và khu tưởng niệm Nguyễn Đình Chiểu.jpg
Di tích Mộ và khu tưởng niệm Nguyễn Đình Chiểu. Ảnh: T.H.H.

          Nhân dịp di tích Mộ và khu tưởng niệm Nguyễn Đình Chiểu được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch thống nhất chủ trương để tỉnh Bến Tre lập hồ sơ đề nghị Thủ tướng Chính phủ xem xét xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt trong năm 2016, chúng tôi xin giới thiệu một số giai thoại tiêu biểu về Cụ Nguyễn Đình Chiểu còn lưu truyền cho đến hôm nay.

Nguyễn Đình Chiểu và Lê Tăng Quýnh

          Đọc truyện Dương Từ - Hà Mậu, Lê Tăng Quýnh rất thích thú và phục tài tác giả. Lê tăng quýnh nhắn với bạn ở Tân Thuận Đông, người đã cho mượn cuốn Dương Từ - Hà Mậu, khi nào gặp dịp hãy rước Nguyễn Đình Chiểu xuống nhà mình chơi. Một hôm, nhân có ghe đi Cần Giuộc, người bạn viết thư giới thiệu và nhờ người chủ ghe đưa Nguyễn Đình Chiểu xuống thăm Lê Tăng Quýnh.

          Nguyễn Đình Chiểu đến nhà Lê Tăng Quýnh vào lúc ông này đang dạy học. Thấy Nguyễn Đình Chiểu mặc bộ đồ nâu cũ với chiếc khăn gói nhỏ sau lưng, Lê Tăng Quýnh ngỡ là người đi bán thuốc dạo thường gặp trong vùng nên chỉ chào hỏi qua loa rồi mời khách ngồi nghỉ tạm ngoài hiên. Lê Tăng Quýnh vẫn ngờ ngợ trong lòng về người khách mới đến nên kết thúc buổi học sớm hơn thường lệ. Chờ học trò về xong, Nguyễn Đình Chiểu đưa thư giới thiệu. Lê tăng quýnh xem thư mới biết khách là người mà từ lâu mình đã mong mỏi được gặp liền vội vàng xin lỗi. bữa cơm trưa hôm ấy, hai bên trò chuyện rôm rả. Câu chuyện bắt đầu từ việc thuốc men, bệnh tật dần dần chuyển sang chuyện văn chương đạo lý. Lê Tăng Quýnh càng lúc càng ngạc nhiên về học vấn uyên bác của Nguyễn Đình Chiểu. Câu chuyện kéo dài đến lúc đám học trò đi học buổi chiều. Họ đến vây quanh bộ phảng, nơi hai người đang say sưa bàn luận. Bài giảng về đoạn kinh Thi mà thầy Quýnh vừa dạy cho đám môn sinh ban sáng, giờ đây được người khách mới đến đem ra phân tích cặn kẽ khiến các học trò vô cùng thán phục. Tình bạn của hai người bắt đầu từ cuộc gặp gỡ này ở đất Cần Giuộc và ngày càng thắm thiết khi Lê Tăng Quýnh trở thành anh vợ của nhà thơ.

Mối tình của Nguyễn Đình Chiểu và Lê Thị Điền

          Sau lần gặp gỡ ở Cần giuộc, Lê Tăng Quýnh thường hay lên xuống Tân Thuận Đông, thăm Nguyễn Đình Chiểu. Những chuyến đi của Lê Tăng Quýnh thường kéo dài nhiều ngày. Ở nhà Nguyễn Đình Chiểu, Lê Tăng Quýnh thường hay ngồi cùng đám môn sinh chăm chú nghe thầy Đồ Chiểu dạy học. Mến phục tài học lại thương cảm cảnh mù lòa, Lê Tăng Quýnh bàn với gia đình gả em gái là Lê Thị Điền cho Nguyễn Đình Chiểu. Cô Điền, em gái Lê Tăng Quýnh, từ nhỏ đã theo học anh mình nên cũng có một vốn chữ nghĩa nhất định. Đến tuổi trưởng thành, quanh vùng đã có nhiều người đến dạm hỏi nhưng cô đều từ chối.

          Có cô gái lớn tuổi trong nhà, ai cũng có tâm lý lo lắng. Nhưng khi bàn đến chuyện chồng con, cô Điền thường gạt đi:

          - Sau này, dù có chồng đui mù nhưng nếu họp với nguyện vọng của em thì em cũng không ngại.

          Lần ấy, Lê Tăng Quýnh đem ý muốn gả em cho Nguyễn Đình Chiểu bàn với cô. Lê Thị Điền tuy có tin lời phân tích của anh mình nhưng vẫn còn do dự. Muốn sau này cô khỏi ân hận, Lê Tăng Quýnh tìm cách để chính em mình gặp gỡ Nguyễn Đình Chiểu mà tự tìm hiểu lấy. Bàn bạc với anh xong, Lê Thị Điền giả trai lên Tân Thuận Đông xin làm học trò Đồ Chiểu. Qua một thời gian tiếp xúc với người thầy mù, cô Điền nhận thấy rằng người mà mình tìm kiếm bấy lâu nay chính là đây.

Tài ứng đối của Nguyễn Đình Chiểu

          Ở xã Trường Bình có một ông thầy thuốc, tính tình ngay thẳng tới mức ngang bướng, nhân dân vẫn gọi là thầy Tàng. Ông này bị nghễnh ngãng, hay qua lại chơi với Nguyễn Đình Chiểu. Một hôm đang ngồi chơi, thầy Tàng đọc:

          Trâu khát nước bò xuống uống.

          Nguyễn Đình Chiểu đối lại:

          Trê thèm mồi lóc lên ăn.

          (Câu đối chơi chữ ở hai chữ "bò" và "lóc", vừa có thể hiểu như danh từ, vừa có thể hiểu như động từ).

          Kế đó Nguyễn đình chiểu đọc:

          Thầy Tàng tai không nghe sấm.

          (Nói về con vịt, có câu "Trí lôi thanh ư nhĩ ngoại, võng nhiếp thiên uy" tức là: Để tiếng sấm ở ngoài tai, chẳng sợ oai trời). Nguyễn Đình Chiểu vừa có ý trêu chọc thầy Tàng bị nghễnh ngãng, vừa có ý nói đến tính ngay thẳng tới mức ngang ngạnh "không sợ trời, không sợ đất" của thầy Tàng.

          Thầy Tàng đối lại:

          Đồ Chiểu mắt chẳng xé mây.

          (Lời Mã Siêu nói khi theo hàng Lưu Bị: "Nay gặp được minh chúa, khác nào vén đám mây mù mà trông thấy trời xanh". Thầy Tàng cũng vừa có ý trêu lại Nguyễn đình chiểu bị mù lòa, vừa có ý phân bua rằng thời buổi này đâu có ai là minh quân thánh chúa mà tôi phải kính trọng, cũng như ông đó thôi, ông có thấy ai là minh quân thánh chúa không?

          Cả hai cùng cười...

Nguyễn Đình Chiểu với Tôn Thọ Tường

          Về sống ở vùng đất hẻo lánh của trấn Vĩnh Long - Ba Tri, uy tín của người thầy giáo, thầy thuốc Nguyễn Đình Chiểu tiếp tục vang xa, lan rộng. Đặc biệt những thơ văn yêu nước của ông vẫn có những cách bay riêng của nó, được lưu truyền rộng rãi trong nhân dân Nam kỳ lục tỉnh. Những bạn bè, đồng chí cũ, trong đó có những sĩ phu yêu nước - vẫn thường xuyên lui tới thăm hỏi, tìm ở nơi người trí thức mù lòa ở đất Ba Tri này một ý kiến phân tích tình hình, thế cuộc hay nhận một lời khuyên bảo chân tình.

          Nhận biết được vấn đề này, thực dân Pháp lúc bấy giờ, một mặt đề cao truyện Lục Vân Tiên (tất nhiên ở một số mặt nào đó), một mặt tìm đủ mọi cách dụ dỗ, mua chuộc Cụ Đồ. Tôn Thọ Tường được giao làm nhiệm vụ thứ hai này. Tường vốn là chỗ cố giao với Cụ Đồ nhưng nhiều lần đến, Cụ đều tìm cách lánh mặt, từ chối không tiếp. Một hôm, người nhà báo cho cụ có thư và quà của Tôn Thọ Tường gửi tặng. Đó là một hũ mắm cá lóc mà Tường đã nói rõ trong thư là chính tay của vợ mình làm để biếu Cụ. Cụ Đồ đành miễn cưỡng nhận. Sau khi ăn gần hết mắm, nghe người nhà phát hiện ở đáy hũ có mấy nén vàng, Cụ Đồ vô cùng tức giận, bèn sai người đem số vàng đó trả lại và viết thư trách Tôn Thọ Tường đã làm nhục mình.

Còn biết ăn mắm không phải là Tây

          Nguyễn Đình Chiểu và Phan Văn Trị không chỉ là bạn văn thơ mà còn là bạn đồng tâm, đồng chí. Từ ngày Nguyễn Đình Chiểu tỵ địa về Ba Tri, Phan Văn Trị thường hay tới lui thăm viếng, đàm luận về thời cuộc và vận mệnh của đất nước.

          Phan Văn Trị vốn thích ăn mắm đồng. Biết vậy, Nguyễn Đình Chiểu bảo người nhà trong mâm cơm thường có món mắm ngon để đãi bạn. Giữa bữa cơm, trong lúc câu chuyện thời thế đang rôm rả, Nguyễn Đình Chiểu nhắc đến Tôn Thọ Tường. Cử Trị bĩu môi nói:

          - Thằng Tường theo Tây được chức quan lớn, vì vậy mà thiên hạ có người bảo nó khôn. Còn tôi như vầy chúng lại bảo là tôi khùng. Anh thấy đó, khùng thì khùng chứ "Di, Tề nào khứng giúp Châu".

          Nguyễn Đình Chiểu đặt chén xuống bàn, cười khẩy, nói:

          - Thằng Tường theo tây đã quán món ăn Tây, chắc nay không ăn mắm được như bọn mình nữa rồi.

          Cử Trị tán thành:

          - Phải rồi. Hễ còn biết ăn mắm sống thì không phải là Tây!

Nguyễn Đình Chiểu với Michel Ponchon

          Bọn thực dân Pháp rất xảo quyệt, chúng biết Nguyễn Đình Chiểu có uy tín lớn trong nhân dân nên tìm mọi cách mua chuộc, lôi kéo ông về phía chúng. Tuy nhiên, con người tiết tháo và trung dũng ấy đã khiến cho kẻ thù phải khâm phục khi ông thẳng thừng từ chối mọi đề nghị của kẻ thù. Tên Michel Ponchon từ một tên chủ sự thương chính được chính quyền thuộc địa điều về làm Tỉnh trưởng Bến Tre từ 1883. Đối với hắn, Cụ Nguyễn Đình Chiểu vẫn là "cái đinh" nhức nhối cần phải quan tâm trong kế hoạch bình định vùng đất cù lao này. Hắn đã nhiều lần đến tận An Bình Đông để gặp Cụ Đồ. Một lần lấy cớ nhuận chính cho tập thơ Lục Vân Tiên, Ponchon cùng tên Lê Quang Hiền (thông ngôn) đến thăm cụ. Trong cuộc "hội kiến" bất đắc dĩ này, mặc dù Hiền cố gắng dịch chậm rãi, rõ ràng từng chữ, từng câu nhưng Cụ Nguyễn Đình Chiểu vẫn chập chập lắc đầu, đưa tay ra hiệu giả vờ là mình điếc đặc không nghe, không hiểu gì cả. Kết cục, cả thầy lẫn tớ hôm ấy đành tiu nghỉu ra về.

          Lần khác, Michel Ponchon đến nhà và thông báo về việc chính quyền Pháp đã xét để trả lại ruộng đất của Cụ Đồ ở Tân Thới (Gia Định) và giục Cụ cho người về nhận. Cụ trả lời:

          - Đất vua còn phải bỏ, thì đất tôi sá gì!

          Chủ tỉnh Ponchon lại tỏ vẻ lo lắng về cảnh già nua và bệnh tật của Cụ và đặt vấn đề cấp tiên dưỡng lão. Cụ từ chối:

          - Tôi đang sống đầy đủ trong sự tôn kính của các môn đệ và sự quí mến của đồng bào. Điều đó đã làm tôi thỏa mãn lắm rồi.

          Michel Ponchon khẩn khoản hỏi Cụ có điều gì yêu cầu, hắn sẽ can thiệp với chính quyền thuộc địa thỏa mãn cho Cụ. Cụ Đồ nói:

          - Tôi có một điều mong ước mà lâu nay chưa thực hiện được. Đó là làm lễ tế vong hồn những người dân đã chết trận. Tôi chỉ mong mỏi điều ấy thôi.

          Michel Ponchon ưng thuận nhưng lại đề nghị đích thân đứng ra cùng tổ chức sự kiện này. Cuộc lễ dự định cử hành vào một ngày gần đó, thì trước một ngày, Cụ đã cho người đặt bàn hương án, tổ chức một buổi lễ thật là tươm tất ở tại chợ Đập (chợ Ba Tri ngày nay). Cụ đứng ra làm chủ tế. Dân chúng đến dự lễ rất đông. Nghe giọng Cụ Đồ đọc bài văn tế bi ai, mọi người không cầm được nước mắt. Đọc xong văn tế, Cụ vật ra khóc đến ngất. Bà con phải khiêng Cụ về nhà. Đêm hôm sau khi Ponchon cho người khệ nệ đem cờ xí và lễ vật xuống Ba Tri thì mới hay Cụ Đồ đã làm tế lễ từ hôm trước rồi. Nguyễn Đình Chiểu đã cùng với nhân dân công khai tổ chức trọng thể lễ tế nghĩa sĩ lục tỉnh trận vong. Bài "Văn tế nghĩa sĩ trận vong Lục tỉnh" do ông sáng tác và đọc tại buổi lễ làm cho hàng ngàn người có mặt xúc động không cầm được nước mắt. Buổi lễ đã gây ấn tượng sâu sắc trong nhân dân về "Khúc ca của những người anh hùng thất thế nhưng vẫn hiên ngang" và đã trở thành sự kiện có ảnh hưởng mạnh mẽ đối với nhân dân ở nhiều nơi trong vùng kể từ khi giặc Pháp chiếm đóng hoàn toàn Nam Kỳ lục tỉnh.

          (Trích Nguyễn Đình Chiểu trong cuộc đời của Thạch Phương (Chủ biên), Văn Đình Hy, Huỳnh Ngọc Trảng, Trần Thị Tuyết Hoa, Vũ Văn Ngọc, Nguyễn Văn Kim do Ty Văn hóa và thông tin Bến Tre xuất bản năm 1982).

Hoàng Huấn

01/09/2016 9:00 SAĐã ban hànhDi tích lịch sử văn hóa6184Trần Hoàng HuấnNo
Khám phá ẩm thực ở xứ dừa Bến Tre Khám phá ẩm thực ở xứ dừa Bến Tre
Dừa là một loại nguyên liệu không thể không nhắc tới khi nói đến vùng đất Bến Tre này rồi nhỉ!
Nói đến nét đặc sắc của trái cây nhiệt đới là nói đến trái dừa, và nhắc đến dừa là nhắc đến vùng đất phía Nam chân chất được bao quanh bởi từng rặng dừa xanh mướt, phủ bóng mát lên từng nhánh sông.

Dừa - linh hồn của ẩm thực Bến Tre

Người ta vẫn gọi dừa là đặc sản Bến Tre như một lối nói thông thường, quen miệng, song thực chất, dừa có vị trí cao hơn thế trong nền ẩm thực của vùng đất phía Nam sông nước này. Ở đây dừa không chỉ là loại nguyên liệu thơm ngon, dồi dào, hay món hàng xuất khẩu có giá trị cao, nó đã đi vào đời sống Bến Tre như một điều thiết yếu hết sức tự nhiên. Không có nơi nào mà dừa chiếm vị trí độc tôn trong đời sống sinh hoạt nói chung và văn hóa ẩm thực nói riêng như Bến Tre, từ thân tới lá, từ hoa tới quả đều cung cấp nguyên liệu quý giá để ra đời những món ăn thơm ngon, độc đáo.





Dừa Bến Tre đa dạng về chủng loại, riêng giống dừa xiêm đã có xiêm đỏ, xiêm vàng, xiêm xanh, xiêm lửa,...đặc biệt là dừa sáp đặc ruột, béo ngậy như kem. Ảnh hưởng của dừa đến ẩm thực Bến Tre còn phải kể đến hệ thống thủy hải sản sản sinh dưới những mương rạch của rừng dừa: cá bống dừa, cua, tôm càng xanh, tép, hến,...kết hợp vô cùng ăn ý với vị ngọt ngọt bùi bùi của loại trái cây vàng miền nhiệt đới này, tạo nên nét đặc sắc và sự phối hợp hài hòa giữa từng nguyên liệu trong ẩm thực Bến Tre.

Đôi nét về ẩm thực từ dừa

Trong căn bếp nhỏ bé đơn sơ của mình, người dân Bến Tre tận dụng từ gốc tới ngọn của cây dừa để tạo nên những đặc sản nức tiếng, song nổi bật nhất là những nguyên liệu chính như:

Nước dừa

Nước dừa là nguyên liệu dễ tìm và luôn luôn có sẵn, dùng trực tiếp như loại nước giải khát là đã đủ giải tỏa cái oi bức ngày hè. Nước dừa cũng được sử dụng rộng rãi trong việc chế biến các món kho, ram, chiên, nướng, điển hình nhất là thịt kho tàu, tép rang dừa, cá kho nước dừa, mắm chưng nước dừa, cái ngọt thanh tao của thịt cá đồng quê hòa quyện với độ béo ngậy tạo nên một ấn tượng khó phai cho món mặn Bến Tre.




Cá trê kho nước dừa


Nhưng "siêu sao" trong các món ăn từ nước dừa tươi lại chính là cơm dừa, cái tên thoạt nghe không có gì đặc biệt. Song để có được một trái dừa ngập cơm, hạt nào hạt nấy tròn lẳn bóng loáng, người đầu bếp phải tốn trên dưới 2 tiếng đồng hồ cùng rất nhiều công sức tỉ mẩn trong việc lựa chọn nguyên liệu lẫn chế biến. Làm cơm dừa nhất thiết phải có gạo ngon đã được vo sạch bằng nước dừa tươi, nấu trong trái dừa xiêm to tròn không sứt sẹo, còn đầy nước. Gạo nấu ngay trong trái dừa, ngấm nước cho tới khi ráo cạn, chín đều, không sống sượng hay nhão, từng hạt béo ngậy mùi dừa và tỏa hương thoang thoảng. Cơm dừa ngon nhất khi ăn nóng với tôm chấy mằn mặn, giòn giòn.





Cốt dừa

Cốt dừa là nguyên liệu chủ chốt trong các món ăn của Bến Tre, đặc biệt là món ngọt. Cốt dừa Bến Tre béo ngậy, bùi mà ngọt nhẹ, thoảng mùi thơm,...góp mặt trong hầu hết các món chè, bánh. Nếu như chè Hà Nội có hương hoa nhài dịu dàng và vị đỗ xanh thoảng qua đầu lưỡi, thì nét tinh túy trong ẩm thực ngọt Bến Tre chính là nước dừa. Kết hợp cùng các nguyên liệu cây nhà lá vườn như khoai lang, khoai sọ, bí ngô, đậu đen, đậu đỏ, người dân Bến Tre đã "nhào nặn" ra hàng trăm loại chè đặc sắc "đã ăn là ghiền".




Chè thưng (chè bà ba) - món chè tiêu biểu của Bến Tre


Ngoài chè, các loại bánh trái từ nước cốt dừa cũng hấp dẫn không kém nhờ hương vị ngọt ngào béo ngậy và màu sắc bắt mắt. Chỉ với một chút biến tấu với nước cốt dừa, những món bánh ngọt thông thường như bánh bò, bánh ít ngọt, bánh khoai mì,...đã có thêm chút dấu ấn Bến Tre với nền ẩm thực độc đáo. Tiêu biểu là món bánh bò dừa nướng với lớp vỏ giòn giòn và mùi cốt dừa thơm ngậy, hòa quyện cùng cái sật sật của cơm dừa bào bên trong.




Bánh bò dừa nướng


Củ hủ dừa

Không chỉ sử dụng những nguyên liệu quen thuộc như cốt dừa, nước dừa, người dân Bến Tre còn tận dụng từng bộ phận trên cây dừa vào việc sáng tạo ẩm thực - một trong số đó là củ hủ dừa. Củ hủ dừa là phần lá mầm non của cây dừa, giòn mà không dai, vị béo bùi đặc trưng. Nhắc đến củ hủ dừa là nhắc đến món gỏi củ hủ dừa tôm thịt, công thức khá giống gỏi ngó sen nhưng hương vị béo ngậy hơn, đi cùng chút chua chua của phụ gia tạo ra một món ăn chơi lai rai vừa bùi bùi đầu lưỡi lại không hề ngán ngấy.





Người dân Bến Tre cũng dùng củ hủ dừa để "biến hóa" cho các món ăn quen thuộc, tiêu biểu là bánh xèo củ hủ dừa. Người ta có thể thay hẳn hoặc kết hợp củ hủ dừa với giá trong nhân bánh, thêm vị ngọt thanh ngầy ngậy cho món bánh vốn đã đầy đủ mặn chua cay, tạo ra một nét biến tấu đậm chất Bến Tre.





Được xem như xứ dừa của Việt Nam, có người vẫn đùa rằng "Bến Tre" nên đổi thành "Bến Dừa" mới phù hợp. Quả thực, dưới những tán dừa xanh rì mát rượi, một nét văn hóa ẩm thực độc đáo đã được hình thành mà không cần cầu kì phức tạp về nguyên liệu - chính là văn hóa ẩm thực xứ dừa với những món đặc sản tận dụng từ chính loài cây quen thuộc, gắn bó với đời sống của con người.
30/12/2014 9:00 CHĐã ban hànhẨm thực1118No
Bến Tre long trọng tổ chức Lễ kỷ niệm 191 năm ngày sinh nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu và trao giải thưởng văn học nghệ thuật Nguyễn Đình Chiểu lần thứ I (đợt 2) năm 2013Bến Tre long trọng tổ chức Lễ kỷ niệm 191 năm ngày sinh nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu và trao giải thưởng văn học nghệ thuật Nguyễn Đình Chiểu lần thứ I (đợt 2) năm 2013
Những nén hương tưởng nhớ đến công lao mà Nguyễn Đình Chiểu đã đóng góp cho thơ, văn Việt Nam đã được thấp lên và một lần nữa bài Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuôc được vang lên khiến bao người xúc động. Nguyễn Đình Chiểu là người mở đầu cho dòng văn chương yêu nước chống thực dân Pháp xâm lược từ nữa sau thề kỷ XIX. Thơ, văn của ông gắn chặt với những biến cố lớn lao của đất nước lúc bấy giờ; tác phẩm của ông là những trang bất hủ ngợi ca cuộc chiến đấu oanh liệt chống thực dân Pháp. Đã 125 năm kể từ khi ông qua đời, nhưng những tác phẩm của ông vẫn còn nguyên giá trị


           Để tưởng nhớ và đền đáp công lao to lớn của Nguyễn Đình Chiểu cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, sáng ngày 01 tháng 7 năm 2013, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch và Hội Văn học, Nghệ thuật Nguyễn Đình Chiểu phối hợp với Ủy ban nhân dân huyện Ba Tri long trọng tổ chức Lễ kỷ niệm 191 năm ngày sinh (1822 – 2013) và 125 năm ngày mất (3/7/1888 - 03/7/2013) của Nhà thơ, Nhà chiến sĩ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu và công bố Quyết định trao giải thưởng Văn học Nghệ thuật Nguyễn Đình Chiểu lần thứ I (đợt 2) năm 2013 cho 10 văn nghệ sĩ đạt giải trên lĩnh vực Văn học, Mỹ Thuật, Nhíp ảnh, Sân khấu.

   

  

Ông Võ Thành Hạo – Phó Bí thư Tỉnh ủy – Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh
và Ông Huỳnh Văn Bưu – Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy
 trao giải thưởng Văn học Nghệ thuật Nguyễn Đình Chiểu lần I (đợt 2) năm 2013.
Ảnh VD

Đại diện lãnh đạo tỉnh Bến Tre, Ông Võ Thành Hạo – Phó bí thư Tỉnh ủy – Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh cùng các đồng chí trong Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, lãnh đạo các sở, ban, ngành, đoàn thể tỉnh, các đồng chí là thành viên Hội đồng xét tặng giải thưởng văn học, Nghệ thuật Nguyễn Đình Chiểu, đại biểu lãnh đạo thành phố Bến Tre và các huyện trong tỉnh; đại diện tỉnh Long An, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An; Hội đồng hương Ba Tri tại Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Cần Thơ và tỉnh Bình Phước; các tác giả đạt giải thưởng Văn học, Nghệ thuật Nguyễn Đình Chiểu, đại biểu văn nghệ sĩ, nhân sỹ trí thức trong tỉnh, gia đình gồm con cháu của cụ Nguyễn Đình Chiểu; các đồng chí trong Thường trực huyện ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam huyện Ba Tri, lãnh đạo các ban, ngành, đoàn thể của huyện, các đồng chí nguyên lãnh đạo huyện Ba Tri quan các thời kỳ, cùng đông đảo đồng bào, đồng chí, cán bộ và nhân dân các xã, thị trấn, lực lượng đoàn viên thanh niên, học sinh huyện đến dự lễ.

.        

Tiết mục dự thi hóa trang nhân vật Nguyễn Đình Chiểu
– Lục Vân Tiên – Kiều Nguyệt Nga

của đơn vị huyện Mỏ Cày Bắc. Ảnh VD

      Ngoài việc tổ chức lễ kỷ niệm, các hoạt động Lễ hội điễn ra từ ngày 30/6 đến ngày 03/7 năm 2013 với nhiều hoạt động phong phú, vui tươi lành mạnh như: Liên hoan đờn ca tài tử; Hội thi mâm xôi ngày hội, mâm cơm ngày giỗ, kéo co, nhảy bao bố, Tiếng hát Hoa Phượng Đỏ, vẽ tranh thiếu nhi hè; giao lưu bóng chuyền hơi nữ, cờ tướng … Đặc biệt, các huyện, thành phố tích cực tham dự Hội thi hóa trang nhân vật Nguyễn Đình Chiểu - Lục Vân Tiên - Kiều Nguyệt Nga đã góp phần làm cho tính chất của lễ hội thêm ý nghĩa sâu sắc.                                                                                                                       

                                                                                                                            VD - VP

.

VD - VP

02/07/2013 12:00 SAĐã ban hànhLễ hội1129No
Điều tra, khảo sát kiến trúc tôn giáo tín ngưỡng ở Bến TreĐiều tra, khảo sát kiến trúc tôn giáo tín ngưỡng ở Bến Tre
Nhằm đánh giá hiện trạng các loại hình kiến trúc tôn giáo tín ngưỡng qua các công trình tiêu biểu vùng Nam bộ; nghiên cứu giá trị văn hóa, lịch sử, phong cách kiến trúc công trình tôn giáo tín ngưỡng vùng Nam bộ; phục vụ công tác bảo tồn, quản lý, khai thác và phát huy giá trị công trình tôn giáo tín ngưỡng vùng Nam bộ, trong hai ngày 03 và 04 tháng 10 năm 2012, đoàn công tác của Viện Kiến trúc, Quy hoạch đô thị và nông thôn – Bộ Xây dựng đã đến Bến Tre để tiến hành điều tra khảo sát thực tế và được cán bộ Ban Quản lý Di tích tỉnh hướng dẫn đến các địa điểm: Mộ và đền thờ Lãnh binh Nguyễn Ngọc Thăng, đình Bình Hòa, Thất Phủ Võ miếu (chùa Ông, thị trấn Ba Tri), đình Phú Lễ, đình Tân Thạch, đình Tiên Thủy. Tại đây, đoàn đã tiến hành điều tra, chụp ảnh, vẽ ghi kiến trúc về các công trình. Đây là những công trình có niên đại lâu năm, kiến trúc nghệ thuật đẹp và còn giữ được khá nguyên vẹn cho đến ngày nay trong đó có 03 công trình đã được xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia (đình Phú Lễ, đình Bình Hòa, đình Tân Thạch), 01 công trình đang hoàn chỉnh hồ sơ đề nghị xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia (đình Tiên Thủy), 01 công trình đã được xếp hạng di tích lưu niệm danh nhân cấp quốc gia (Mộ và đền thờ Lãnh binh Nguyễn Ngọc Thăng) riêng Thất Phủ Võ miếu (chùa Ông, thị trấn Ba Tri) là một ngôi chùa của người Hoa nổi tiếng không chỉ ở Ba Tri mà cả tỉnh Bến Tre.

                                            


Được biết chuyến công tác này nằm trong khuôn khổ Dự án nghiên cứu “Điều tra, khảo sát, đánh giá hiện trạng kiến trúc công trình tôn giáo tín ngưỡng vùng Nam Bộ. Đề xuất bảo tồn và phát huy giá trị” và trong đợt này, đoàn tiến hành ở 06 tỉnh Tây Nam bộ: Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Đồng Tháp, An Giang và Kiên Giang.

Chú thích ảnh:

Thất phủ võ miếu (chùa Ông, thị trấn Ba Tri). Ảnh T.H.H.

                                                                                               Trần Hoàng Huấn

30/11/2012 12:00 SAĐã ban hànhDi tích lịch sử văn hóa1428No
Phê duyệt Đề án Bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị di tích Lịch sử - Văn hóa tỉnh Bến Tre đến năm 2015, định hướng đến năm 2020.Phê duyệt Đề án Bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị di tích Lịch sử - Văn hóa tỉnh Bến Tre đến năm 2015, định hướng đến năm 2020.
                UBND tỉnh Bến Tre có quyết định số 1815/QĐ-UBND ngày 21 tháng 9 năm 2012 về việc phê duyệt Đề án Bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị di tích Lịch sử - Văn hóa tỉnh Bến Tre đến năm 2015, định hướng đến năm 2020.


                Về  xây dựng, trùng tu, tôn tạo di tích Lịch sử - Văn hóa:

              Phấn đấu đến năm 2015 đầu tư, tu bổ và tôn tạo 80% di tích cấp quốc gia, 50% di tích cấp tỉnh; đến năm 2020 đầu tư, tu bổ và tôn tạo 100% di tích cấp quốc gia, 80% di tích cấp tỉnh đã được công nhận. Khai thác phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa có hiệu quả cao nhất.  Đến năm 2015, có 50% di tích với tư cách là một sản phẩm du lịch có giá trị lịch sử văn hóa phục vụ du khách nhằm phát huy giá trị di tích và phát triển kinh tế/du lịch.

 Đình Phú Ngãi (xã Phú Ngãi, huyện Ba Tri), một trong những ngôi đình được đưa vào Đề án. Ảnh T.H.H.

                                         Về nguồn vốn đầu tư xây dựng, trùng tu, tôn tạo và phát huy giá trị các di tích Lịch sử - Văn hóa:

              Vốn xây dựng, trùng tu, tôn tạo di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia, huy động từ các nguồn vốn trong chương trình mục tiêu quốc gia, vốn ngân sách tỉnh, huyện, thành phố 93%, vận động trong nhân dân trong và ngoài tỉnh 7%.

              Vốn xây dựng, trùng tu, tôn tạo di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh, ngân sách huyện, thành phố chiếm 53%, vận động nhân dân đóng góp 47%.

              Vốn triển khai khảo sát, điều tra, lập hồ sơ công nhận di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh bình quân 50 triệu/hồ sơ; khảo sát điều tra, lập hồ sơ công nhận di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia 80 triệu/hồ sơ do ngân sách tỉnh cấp.

                                         Về phân cấp quản lý:

              Các di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia và cấp tỉnh do Ủy ban nhân tỉnh quản lý nhà nước. Có sự phân công trực tiếp cho ban quản lý tỉnh, ban quản lý huyện quản lý các di tích lịch sử cách mạng, các di tích về kiến trúc nghệ thuật, các di tích đình chùa, di tích nhà cổ. Các di tích có qui mô lớn như di tích Đường Hồ Chí Minh trên biển thành lập Ban Quản lý Di tích riêng trực tiếp quản lý.

                                                                                                                                                      Trần Hoàng Huấn

04/10/2012 12:00 SAĐã ban hànhDi tích lịch sử văn hóa1254No
Chùa An LinhChùa An Linh

UBND tỉnh Bến Tre vừa có quyết định số 1763/QĐ-UBND ngày 13 tháng 9 năm 2012 công nhận Chùa An Linh (xã An Nhơn, huyện Thạnh Phú) là di tích cấp tỉnh về lịch sử cách mạng và tín ngưỡng tôn giáo. Từ thành phố Bến Tre theo quốc lộ 60, rồi theo đường tỉnh 888 đến thị trấn Thạnh Phú (44km), tiếp tục đi thẳng đến UBND xã An Nhơn (12km), rẽ phải vào huyện lộ 51 khoảng 500m là đến di tích.

Chùa An Linh tọa lạc trên khu đất giồng ấp An Hòa, xã An Nhơn có diện tích 3850,7m2; diện tích xây dựng chùa là 424,44m2. Kiến trúc của chùa dạng tứ trụ, nóc hình chóp. Nội thất bên trong chủ yếu là những bệ thờ bằng xi măng lát gạch ceramic và ban thờ bằng gỗ. Phía trên bệ thờ được đặt trang nghiêm tượng phật Di Lạc. Trong những năm kháng chiến, phía dưới bệ thờ của tượng phật Di Lạc này được xây dựng hầm bí mật có diện tích khoảng 1.5 m2 để che chở những cán bộ cách mạng của địa phương. Hiện nay, khu chính điện là nơi thờ Phật Di Lặc, Quan Thế Âm, Tiêu Diện, Thích Ca, Hộ Pháp, Tam Tạng,…

 

Trần Hoàng Huấn

28/09/2012 12:00 SAĐã ban hànhDi tích lịch sử văn hóa1085No
Sự kiện Quân sự ngày 30/10/1967 (ấp Thạnh Trị Thượng, xã Mỹ Hưng, huyện Thạnh Phú)Sự kiện Quân sự ngày 30/10/1967 (ấp Thạnh Trị Thượng, xã Mỹ Hưng, huyện Thạnh Phú)
UBND tỉnh Bến Tre vừa có quyết định số 1764/QĐ-UBND ngày 13 tháng 9 năm 2012 công nhận Sự kiện Quân sự ngày 30/10/1967 (ấp Thạnh Trị Thượng, xã Mỹ Hưng, huyện Thạnh Phú) là di tích lịch sử - văn hóa cấp tỉnh về lịch sử cách mạng. Từ T.p Bến Tre theo quốc lộ 60, rồi đường tỉnh 888 đến Trị trấn Thạnh Phú khoảng 52km rẽ trái vào huyện lộ 25 đi 2km là đến, di tích nằm bên trái.


Xã Thạnh Phú trước đây, nay là xã Mỹ hưng, xã Bình Thạnh và một phần xã Mỹ An vào đêm 24 rạng sáng 25-10-1967, lần đầu tiên, một đại đội địa phương cùng với dân quân,  du kích của các xã trong huyện đồng loạt bao vây, tấn công chi khu địch tại huyện Thạnh Phú. Lần nầy thực hiện sự chỉ đạo của Huyện, mở màn chiến dịch Đông Xuân 1967-1968, bộ đội tấn công, bao vây dài ngày chi khu địch trong huyện nhằm thăm dò sự phản ứng và lực lượng ứng cứu của địch. Trận tấn công đồng loạt bất ngờ, bộ đội ta tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, giành chiến thắng; quyết tâm bao vây, kềm chân địch. Trận chiến  kéo dài, bọn địch chi khu vô cùng hoang mang điện xin bọn tiểu khu Kiến Hòa cứu viện. Khoảng 7 giờ sáng ngày 30-10-1967, chiếc đầm già L.19  bay đến quần đảo mấy vòng rồi bắn trái điểm xuống con Giồng thuộc ấp Thạnh Trị, xã Thạnh Phú. Ngay sau đó, từng tốp máy bay phản lực của địch nhào xuống dội hàng loạt bom đìa và bom bi. Tiếp đến pháo 105 ly của địch bắn cấp tập vào con giồng. Sau trực thăng chiến đấu bay đến phóng hỏa tiễn và đạn M79  dọn bải cho từng tốp, từng tốp máy bay trực thăng nhào xuống đổ các tiểu đoàn 31, 32 của trung đoàn 10, sư đoàn 7 ngụy và nhiều đại đội Biệt động quân, bọn lính bảo an của tiểu khu,…Trận đánh không cân sức  giữa  đại đội địa phương quân huyện và dân quân du kích các xã diễn ra vô cùng ác liệt, trên một địa hình trống trải, đã bị bom đạn địch san bằng. Trên con giồng Lớn ấp Thạnh Trị gần như bình địa vì bom pháo và xích xe tăng địch.

Tôn kính các anh hùng liệt sĩ đã hy sinh trong trận đánh địch phản kích ngày 30 tháng 10; Đảng ủy, chính quyền cùng nhân dân xã Mỹ Hưng xây Đền thờ tôn vinh ngay tại nơi diễn ra sự kiện và tổ chức giỗ hội hàng năm vào ngày 30-10, để tỏ lòng nhớ ơn những liệt sĩ  đã xả thân vì Độc lập, Tự do cho Tổ quốc.

                                                      Trần Hoàng Huấn

28/09/2012 12:00 SAĐã ban hànhDi tích lịch sử văn hóa1257No
Văn hóa của nông dân €œxứ dừa Bến Tre trong chế biến thức ăn.Văn hóa của nông dân €œxứ dừa Bến Tre trong chế biến thức ăn.
Có thể nói, ăn và chế biến thức ăn là kết quả của quá trình phát triển văn hoá ẩm thực, song để đạt được trình độ nghệ thuật ẩm thực đòi hỏi phải gắn với sự phát trịển của đô thị và văn minh đô thị, thì sự ăn mới đáp ứng đươc nhu cầu phát triển toàn diện của con người và nâng con người lên tầm cao mới của sự phát triển.

Người Bến Tre trong sự phát triển chung của xã hội Việt Nam, trên cơ sở kế thừa và phát huy vốn văn hoá ẩm thực của cha ông trên vùng đất mới, do điều kiện địa lý tự nhiên và với những sản vật mới lạ, lúc đầu không khỏi ngỡ ngàng, khó khăn, nhưng “cái khó không bó cái khôn”, ngược lại còn “ ló cái khôn”, đã giúp người Bến Tre nhanh chóng khắc phục khó khăn, ngỡ ngàng, sớm tạo ra nhiều món ăn đặc sản, mang đậm hương vị của  “xứ  dừa, xứ biển, xứ ruộng, xứ vườn”, đến nay đạt trình độ “ từ để biếu đến để bán “.

 

Sau hơn 300 năm lập nghiệp, từ những sản vật vốn là thế mạnh của “ xứ dừa”, người Bến Tre đã biết tạo nên những món ăn đặc sản mang đậm  hương vị vốn có từ sự kết hợp chất mặn nồng của biển, chất ngọt của mía đường, chất béo của dừa hoà quyện với hương thơm đồng nội…để tạo nên những món ăn đặc sản đậm đà, khó quên.

 

  Ngoài những món ăn thường nhật ( đôi khi theo thời vụ ) như tép rang dừa, cá bống kho dừa, tương ( tương hột) kho dừa, mắm kho dừa, mắm chưng với nước cốt dừa, bí đỏ nấu canh dừa ( bí rợ hầm dừa)…trong những ngày giỗ chạp, ngày tết có món thịt heo kho nước đừa, bánh tráng, bánh phồng,…. Bên cạnh đó, nhiều món bánh hợp khẩu vị vừa phục vụ nhu cầu ăn chơi, vừa đáp ứng nhu cầu giỗ, tết như bánh ít, bánh tét, bánh xèo,…

 

Có được  điều đó không phải ngẫu nhiên, mà phải trải qua quá trình thử nghiệm khắt khe trong đời sống xã hội, từ sự giao lưu văn hoá trong- ngoài và từ những đòi hỏi bức xúc của nhu cầu xã hội, dần tạo nên nét độc đáo riêng có của văn hoá  ẩm thực Bến Tre.

 

 Nhiều đặc sản ẩm thực nổi tiếng của Bến Tre như: Bánh dừa Giồng Luông, Bì bún Giồng Luông, Hủ tiếu Mỹ Lồng,... nhưng nổi tiếng hơn cả là kẹo Mỏ Cày và bánh tráng Mỹ Lồng - bánh phồng Sơn Đốc.

Bởi:

Bến Tre nước ngọt, sông dài,

Nơi chợ Mỏ Cày có kẹo nổi danh,

Kẹo Mỏ Cày vừa thơm, vừa béo,

Gái Mỏ Cày vừa khéo, vừa ngoan,

Anh đây muốn hỏi thiệt nàng:

Làm trai Thạnh Phú cưới nàng được chăng?

( Ca dao Bến Tre)

 

Kết quả khảo sát điền dã tại chợ Mỏ Cày cho biết, kẹo Mỏ Cày ra đời cách nay trên dưới 70 năm. Cũng như các nghề làm bánh khác, lúc đầu người làm kẹo dừa ở chợ Mỏ Cày chủ yếu là để ăn (mang tính thử nghiệm), sau đó là để biếu, đến thập niên 50-60 thế kỷ XX, kẹo dừa trở thành sản phẩm hàng hóa và đến những năm 90 thế kỷ XX trở lại đây, kẹo Mỏ Cày từng bước phát triển thành kẹo dừa Bến Tre. Người đầu tiên làm kẹo dừa Mỏ Cày là bà Nguyễn Thị Ngọc ( có người cho rằng chú Hều, một Hoa kiều cũng sản xuất kẹo dừa cùng thời với bà Ngọc và cùng cư ngụ tại thôn Đa Phước Hội).

 Bà Nguyễn Thị Ngọc sinh năm 1914, cư ngụ thôn Đa Phước Hội, nay thuộc khu phố I –thị trấn Mỏ Cày Nam, bà làm kẹo dừa rất ngon, được nhiều người trong địa phương tìm đến học tập kinh nghiệm sản xuất, dần phát triển thành làng nghề : “ Tại chợ Mỏ Cày có kẹo nổi danh”.

Ngày nay, kẹo dừa ở Bến Tre phát triển rộng mạnh, công cụ xản xuất thủ công dần được thay thế bằng máy móc, do đó năng xuất, chất lượng không ngừng được nâng cao, ngày càng vươn lên đáp ứng tốt nhu cầu tiêu dùng của xã hội cả trong nước và ngòai nước.

 Bánh tráng Mỹ Lồng

 Bánh phồng Sơn Đốc

 

Và: Trong buổi hò cấy, người thôn nữ hỏi người thanh niên:

“ Nghe anh đi đó, đi đây,

Cho em hỏi vặn câu này:

Bánh phồng, bánh tráng đất này (ở) đâu ngon”.

Người thanh niên hò đáp:

“Bánh tráng Mỹ Lồng,

Bánh phồng Sơn Đốc

Măng cụt Hàm Long

Vỏ ngoài nâu, trong trắng như bông gòn

Anh đây nói thiệt sao em còn so đo”

                   ( Ca dao-Dân ca Bến Tre )

 Bánh tráng Mỹ Lồng ( Mỹ Lồng- địa danh thuộc xã Mỹ Thạnh, huyện Giồng Trôm)

Nghề làm bánh tráng ở Mỹ Lồng ra đời cách nay trên 100 năm, lúc đầu chỉ một vài gia đình cư ngụ ở ấp Nghĩa Huấn ( thuộc Mỹ Lồng) sản xuất chủ yếu phục vụ gia đình và một ít hộ có nhu cầu trong ngày giỗ chạp, lễ tết hoặc để ăn, hoặc để biếu bà con, thân tộc. Do đó chưa gọi là nghề mà gọi là lò bánh tráng. Lò sản xuất không thường xuyên, tập trung vào những tháng cuối năm âm lịch, chủ yếu nhằm đáp ứng yêu cầu của bà con, lối xóm.

 

Sắp đến Tết hoặc giỗ chạp, bà con lối xóm có nhu cầu làm bánh tráng phải mang gạo, dừa khô, mè, đường, muối... đến lò để nhờ làm bánh tráng. Gạo làm bánh tráng phải là loại gạo lúa mùa ( lúa 6 tháng ), bởi chất lượng bánh phụ thuộc chủ yếu vào chất lượng gạo và vào sự khen- chê của người thưởng thức. Cho nên, cả chủ lò và khách hàng đều quan tâm đến chất lượng của bánh (mặc dầu chủ  lò chỉ ăn tiền công tính theo số lít gạo ). Đồng thời, do chỉ để ăn hoặc để biếu, nên bà con không chỉ chú trọng chất lượng gạo mà còn chú trọng cả vị béo của dừa, ngọt của đường, mặn mòi của muối, thơm của mè và ngon, thơm của bánh sau khi nướng. Do đó, bánh tráng Mỹ Lồng dần dần nổi tiếng và được dân gian hoá “ Bánh tráng Mỹ Lồng” .

 

Nhu cầu ngày càng cao, sự trao truyền ngày càng nhiều, phương thức sản xuất như trên vẫn tồn tại đến những năm 80 thế kỷ XX, nhưng trên diện rộng hơn.

 

Từ những năm 90 ( TK XX), do sản xuất nông nghiệp theo hướng thâm canh tăng vụ, Bến Tre tuy không còn diện tích sản xuất lúa mùa, gạo đạt chuẩn làm bánh tráng ổn định, song, nghề làm bánh tráng Mỹ Lồng vẫn tồn tại và phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá. Hiện nay, bánh tráng Mỹ Lồng sản xuất quanh năm, số lượng nhiều, chất lượng phong phú, đáp ứng nhu cầu đa dạng của người tiêu dùng.

Ngày nay, nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội, chất lượng bánh tráng Mỹ Lồng được sản xuất nhiều loại: chất lượng béo của dừa, của trứng gà, chất lượng ngọt của đường – của sữa bò, mặn của tôm khô,… Nhìn chung, nghề làm bánh tráng Mỹ Lồng ngày càng phát triển đa dạng, phong phú, hợp với sự phát triển chung của đời sống xã hội.

 

Bánh phồng Sơn Đốc ( Sơn Đốc là địa danh thuộc xã Hưng Nhượng, huyện Giồng Trôm)

Cũng như bánh tráng Mỹ Lồng, khởi thủy, bánh phồng Sơn Đốc sản xuất chủ yếu để ăn, để biếu thân tộc, bạn bè trong những ngày tết, giỗ chạp, hoặc hội hè,…ở làng quê Bến Tre ( chủ yếu các xã trong khu vực thuộc Giồng Trôm- Ba Tri).

Việc sản xuất bánh phồng Sơn Đốc ngày nay có nhiều yếu tố khác xưa cả về chất lượng sản phẩm và kỹ thuật sản xuất.

Về chất Lượng sản phẩm: bánh phồng mặn thay thế cho bánh phồng chuồi (bánh phồng ngọt) với nhiều loại chất lượng phù hợp với “ tiền nào- của nấy”.

 

Về kỹ thuật sản xuất: một số công đoạn sản xuất máy móc thay cho qui trình sản xuất thủ công như quết nếp, bao bì,…Quy mô sản suất lớn vượt qui mô sản xuất gia đình.

 

Một trong những yếu tố xốp- chuồi, ngon của bánh là nguyên liệu nếp nguyên chất (lọai bỏ hạt gạo lẫn trong nếp trước khi đem xôi). Do tính chất tặng- biếu- cho, nên nguời làm bánh hoặc nhờ làm bánh rất chú trọng yếu tố này. Cho nên, trước khi làm bánh, gia đình nông dân, sau khi xay nếp ( hoặc mua nếp) về nhà trút ra nia, thúng, thau,... để mọi người cùng lựa bỏ gạo tẻ lẫn trong nếp. Nếp càng nguyên chất, bánh càng ngon, càng chuồi.

 

Ngày nay, do nhu cầu và điều kiện xã hội không phù hợp nên bánh phồng chuồi nhường chỗ cho bánh phồng mặn đang thời hưng thịnh.

 

Bánh tét xứ dừa

 

Ngoài việc gói bánh tét để ăn, để biếu, để dâng cúng tổ tiên vào những ngày giỗ chạp, nhiều gia đình ở Bến Tre còn lưu giữ tục lệ cúng bánh tét vào ngày cúng tất- sáng mùng 3al.

Để có bánh tét cúng mùng 3al, gia chủ phải chuẩn bị mọi thứ trước ngày mùng 1 Tết như: lá và dây gói, nếp, nguyên liệu dùng làm nhân như đậu xanh, đậu đen, chuối Xiêm chín, thịt heo ba rọi ướp muối, đừơng, phơi cho ráo thịt (nếu gói nhân thịt). Trước đây, trong những ngày này ( từ ngày mùng 1 đến ngày mùng 7 al) theo phong tục, tập quán, khi chưa làm lễ hạ niêu, mọi họat động lao động sản xuất đều bị tạm dừng, cho nên mọi nguyên vật liệu phải được chuẩn bị trước, kể cả thức ăn cho những ngày này cũng phải được chuẩn bị đầy đủ. Ngày nay, phong tục, tập quán trên dần thu hẹp lại.

Gói và nấu bánh tét phải thực hiện trong một ngày, bánh mới chín, do đó để có bánh tét cúng mùng 3, việc gói bánh và nấu bánh phải được thực hiện trong ngày mùng 2 al.

Chuẩn bị nguyên vật liệu:

-Nếp trắng 1 lít gút hết nước đục, để ráo nước (1 lít nếp gói khỏang 4 đòn bánh tét)

-Dừa khô vắt lấy nước cốt để xào nếp:1 trái/ 1 lít, dừa làm nhân 1 trái/ 1 lít  ( nếu gói nhân đậu xanh);

Cách chuẩn bị các loại nhân bánh:

-Nhân đậu xanh cà 300gr/ lít nếp ( nếu gói nhân đậu xanh : Đậu xanh ngâm mềm, gút bỏ vỏ xanh, cho vào xoong; 1 trái dừa khô nạo vắt nước cốt chế ngập đậu, xắt ít hành lá vào nấu cho thêm hương vị, đậy kín nắp, nấu chín ( chú ý không được xới, vì xới đậu sẽ bị sượng cứng). Đậu chín- nguội, tiến hành phân nắn nhân vừa với số đòn bánh tét định gói)

- Nhân thịt heo ba rọi ( Nếu gói nhân thịt) khỏang 100gr- 200gr cắt phân đều cho 4 đòn và 300gr đậu xanh cà nấu chín (có thể không nấu trước, chỉ  gút bỏ vỏ xanh để ráo nước).

- Nhân đậu đen khỏang 300gr (đối với bánh tét không nhân) nấu chín mềm, để ráo nước;

- Nhân chuối Xiêm chín ( đối với bánh nhân chuối) từ 3-4 trái được chẻ đôi, chẻ ba hoặc chẻ tư, phân đều cho 4 đòn;

Phụ liệu:

-Lá chuối Xiêm tươi phơi dịu, lau sạch, xé đều khỏang 30-35cm/ bánh, và dây buộc ( Bẹ chuối hoặc cọng tàu lá chuối chẻ nhỏ phơi khô dẻo) số lượng đủ gói bánh.

-Một ít đường cát và muối ăn.

-Nồi hấp bánh, dụng cụ khác

Cách tiến hành:

-Xào nếp: vắt nước cốt dừa vào chảo, cho ít muối, đường nếm vừa khẩu vị, cho nếp vào, nhóm lửa xào chín ( sao cho ráo nước và nếp tươm nhựa dẻo là được- còn gọi là nếp tới). Nếu gói bánh tét không nhân, khi nếp vừa tới cho đậu đen vào xào trộn đều nếp và đậu, sau đó phân đều 4 đòn để gói ( cách gói sẽ trình bày sau).

-Trải lá( làm lá):

Mỗi bánh sử dụng hai miếng lá chuối trải xuôi xếp trở trái trả và hai miếng trải ngang.  

-Gói bánh (Làm bánh):

+Phân nếp và làm nhân:

Trải lá xong, phân nếp và banh đều trên lá, kế tiếp:

*Nếu gói nhân đậu xanh, đặt nhân đậu xanh vào giữa;

*Nếu gói nhân thịt, phân và banh đều đậu xanh đã nấu chín trên nếp, hoặc đậu xanh đã gút sạch, ráo nước, trộn một ít hành lá xắt nhuyễn, kế tiếp đặt thịt ba rọi vào giữa.

Trong dân gian có câu đố về lọai bánh tét này như sau:

“Bánh gì trong trắng, ngòai xanh,

Trỉa đậu, trồng hành rồi để heo vô”

 

*Nếu gói nhân chuối, đặt chuối Xiêm vào giữa.

+Gói bánh:

*Buộc tạm (còn gọi là gói tạm):

Bước thứ nhất, sau khi phân nếp và nhân xong ( đối với bánh không nhân thực hiện gói như bánh có nhân) xếp chồng nhiều lượt hai mí lá theo chiều dài của bánh, kế tiếp bẻ một đầu lá bánh vào và buộc tạm theo cách buộc nốt lạc và dộng cho nếp dẻ đều;

Bước thứ hai, khi đã dộng đều, bẻ lá đầu thứ hai vào ( cùng chiều với đầu thứ nhất) và dùng hai mảnh lá vừa với khổ bánh, mảnh phất ngang, mảnh phất dọc và buộc chặt lại. Mở nuộc thứ nhất, dộng cho dẻ dặt bẻ lại và dùng hai mảnh lá vừa với khổ bánh, mảnh phất ngang, mảnh phất dọc và buộc chặt lại. Kế tiếp, buộc theo chiều dọc đều cả hai bên.

*Buộc chặt ( gói bánh):

Chọn một dầu, dùng dây gói buộc nuộc kế tiếp, bằng cách quấn 2 vòng, xiết vừa phải, buộc nốt lạc và xuôi dây cùng chiều với nuộc thứ nhất ( khỏang cách từng nuộc khỏang 2cm). Các nuộc kế tiếp thực hiện như nuộc thứ 2. Sau cùng, dùng dây của các nuộc quấn vào nhau tạo thành quai bánh. Bánh gói khéo cơ bản là các nuộc dây buộc cách đều nhau, các đòn bánh dài bằng nhau, bánh không chỗ to, chỗ nhỏ, đường gân dây buộc đều, quai thon nhọn,…Hai đòn buộc chặt vào nhau tạo thành một đôi, vừa thuận lợi cho khi vớt bánh từ nồi nấu, vừa thuận lợi khi treo bánh trên giá cho ráo nước.

+Nấu bánh:

Khi gói xong, cho bánh vào trả ( hoặc xoong lớn), chế ngập nước nấu từ sáng đến chiều ( khỏang 13 tiếng) bánh chín. Quá trình nấu bánh thường xuyên chêm nước cho ngập bánh, nếu số lượng bánh nhiều chú ý trở các đòn bánh dưới đáy nồi lên trên mặt, tạo cho các đòn bánh có độ chín đều nhau.

Khi bánh chín, vớt ra để nguội, máng ( gác) trên giá cho rỏ nước.

 

Năm sắp hết, bất cứ ai còn nhớ những chiều ba mươi trong cái se lạnh của tàn Đông, lũ trẻ quây quần bên bếp lửa, chuyện trò ấm áp, vừa chụm lửa « lập công » để chờ đợi nồi bánh chín, để được ăn những cái bánh « đầu thừa đuôi thẹo » có khi chỉ lớn hơn ngón chân cái. Vậy thôi mà đâu dễ gì quên.

Chẳng hiểu sao bánh dừa, bánh ú thường được buộc thành xâu, thành chùm, thành từng chục... Bánh tét lại được buộc thành đôi. Có lẽ không chỉ đơn giản là chỉ để treo máng hay còn một ý nghĩa nào khác chẳng hạn người xưa muốn nói rằng trong đời ai cũng cần có đôi, có bạn.

Nếu người thân yêu không ở quá xa, ai đó muốn gửi một lời tỏ tình hay một lời chúc lành năm mới, hãy gửi một nhành mai kèm với đôi đòn bánh tét chữ, ‘‘niềm hạnh phúc sẽ đến trong tầm tay’’ !

 

Bánh tét ngày giỗ hội

Bánh dừa Giồng Luông

Giồng Luông thuộc xã Đại Điền, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.

Đại Điền là một trong tổng số 17 xã và 1 thị trấn của huyện Thạnh Phú, cách thị trấn Thạnh Phú 12 km về hướng Tây Bắc, cách thị xã Bến Tre 36 km về hướng Đông Nam.

Từ thành phố Bến Tre qua Cầu Hàm Luông, theo quốc lộ 60 và quốc lộ 57 nối dài, vượt qua km70 khoảng 100m, rẽ trái qua cầu Tân Phong- Xã Tân Phong- Huyện Thạnh Phú- dọc hương lộ Tân Phong- Phú Khánh khoảng 4km là đến trung tâm xã Đại Điền.

Đại Điền không chỉ nổi tiếng với những chiến công oanh liệt của quân và dân huyện Thạnh Phú nói chung, Đại Điền nói riêng trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, nơi xuất quân của tiểu đoàn 307, có nhà cổ Hương Liêm với tuổi đời trên 100 năm, được Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch công nhận di tích cấp quốc gia mà còn nổi tiếng có Bánh dừa Giồng Luông .

Theo các bậc cao niên, nghề làm bánh dừa ở Giồng Luông ra đời cách nay trên trăm năm- lúc đầu chủ yếu là để biếu hoặc để ăn, cho nên việc làm bánh chỉ mang tính nữ công gia chánh trong gia đình. Do đó, khi tổ chức làm bánh, người chủ gia đình chú trọng cả chất lượng cũng như hình thức của bánh, nên bánh không chỉ ngon, mà còn đẹp, bánh có thể để vài ba ngày, ăn vẫn còn ngon.

 Nghề dạy nghề, người dạy người, bánh dừa Giồng Luông ngày càng phát triển đa dạng vượt khỏi Giồng Luông- Đại Điền- Thạnh Phú để trở thành một trong những sản phẩm nổi tiếng của tỉnh Bến Tre.

 

Quy trình sản xuất bánh dừa như sau:

1.2/- Chuẩn bị nguyên vật liệu:

-Gạo nếp ít nhất 1 lít. Một lít nếp gói đựơc 30 cái bánh.

Nếp gút sạch không còn nước đục, cho vào thúng để khô ráo, sau đó rưới nước nhiều lần cho nếp mềm.

-Dừa khô: 1 trái dừa khô/ 1 lít nếp.

 Dừa khô nạo lấy lớp mềm trên mặt dừa, sau đó băm nhuyễn. Phần còn lại nạo vắt lấy cốt.                     

-Lá cà bắp: 1 lá rưỡi gói 1 bánh .

Đọt của lá dừa nước dân gian còn gọi là lá cà bắp. Ở Bến Tre, dừa nước mọc xanh tốt ở phía hạ lưu các con sông Tiền, Ba Lai, Hàm Luông, Cổ Chiên và ở ven bờ các kênh rạch, chịu ảnh hưởng của thủy triều lên xuống hằng ngày. Cây dừa nước mọc thẳng đứng, cao khỏang từ 4-5mét, những đọt non ( cây cà bắp) vọt thẳng vút lên trời như những lưỡi kiếm di sắc nhọn.

Trước khi gói bánh, người nông dân vào đám lá chọn lọai cà bắp sắp nở thành lá ( lá dầy, bắp lớn) để “ trỉa lá” đúng qui cách, đúng kích cỡ, sau đó mới đốn.  Chặt cà bắp chọn đọan có lá dài, chặt xong, chẻ xuôi lá cà bắp ra làm đôi, sau đó tước lấy lá, chặt bỏ gốc lá, so bằng ngọn ( lá càng dài càng tốt). Bước thứ hai thực hiện trỉa lá và quấn nòng.

Cách trỉa lá như sau: dùng dao nhỏ- bén rọc hai phiến lá khỏi cọng lá    ( cọng lá sử dụng vào việc chầm lá lợp nhà,…). Kế tiếp dùng dao tách gân lá hai bên phiến lá ( bìa lá), gân lá phơi khô dùng làm dây buộc bánh ( gói bánh).

Quấn nòng:

 Nòng là lớp bao dùng để cho nguyên liệu vào trước khi gói bánh (gạo nếp đã chế biến xong).

 Cách quấn nòng như sau:

Xếp xuôi ba phiến lá chồng liễn lên nhau. Quấn từ gốc lên ngọn bằng cách bẻ từ gốc lá vào trong từ 5cm-6cm làm cỡ cho nòng, từ đó quấn đều lên ngọn, gần đến chót lá dùng dao nhọn vạch hai vạch song song và chèn chót lá vào sao cho nòng không bị bung tuột.

-Xây lò nấu bánh dừa như xây lò tráng bánh, nhưng trên miệng lò chỉ đặt một  trả nấu bánh ( hoặc làm lò dã chiến, chụm lửa được cả 4 bên- xây kiểu ông Táo đội nồi cơm).

2.2/-Gói bánh- nấu bánh:

Trước khi gói bánh, kiểm tra lại nếp, nếu nếp mềm cho nước cốt dừa và dừa bâm vào trộn đều, nếu chưa mềm, tiếp tục rưới nước đến khi nếp mềm mới cho nước cốt dừa và dừa bâm vào trộn đều.

Thực hiện xong việc trộn nếp là tiến hành gói bánh ngay.

Nếu gói bánh nhân đậu xanh, cho đậu xanh cà ( đậu xanh cà bể đôi) vào nước ngâm bỏ vỏ xanh, sau đó nấu chín, vắt thành viên tròn đủ với số bánh định gói. Nếu gói nhưng chuối phải chuẩn bị chuối Xiêm chín đủ gói. Nếu gói bột đậu, mang đậu đen hoặc đậu đỏ gút sạch, nấu chín, trọn đều với nếp theo ý thích.

Cách gói bánh dừa: cho nếp vào gần nửa nòng, kế tiếp đặt nhưng vào, tiếp tục cho nếp vào nòng- sao cho vừa đủ bẻ miệng nòng là được. Sau đó bẻ đầu, bẻ đuôi và dùng dây của gân lá buộc chặt hai bên theo chiều dọc của bánh ( nếu gói nhưng chuối – còn gọi là nhân, cho chuối vào thay nhưng (nhân ) đậu xanh, nếu gói bánh có trộn đậu đen có thể gói bánh không nhưng ).

Bánh gói xong, cho tất cả vào trả, đổ nước sạch ngập bánh, đạy kín, nấu từ 5 tiếng- 6 tiếng là bánh chín. Bánh chín vớt ra để nguội. Sau đó xâu lại thành chùm, mỗi chùm đủ 12 cái gọi là một chục.

Hiện nay, bánh dừa Giồng Luông trở thành sản phẩm hàng hóa đa dạng về chất lượng, theo đò, theo xe đi đến các tỉnh lân cận. Bánh được sản xuất thường nhật tại nhiều hộ ở Giồng Luông.

 

Nửa chục bánh dừa (  6 bánh bằng nửa chục, 12 bánh bằng một chục)

 

Mắm còng  Châu bình

 

Mẫu chuyện tình trong văn chương bình dân Bến Tre có chuyện rằng:

Cách tỉnh lỵ Bến Tre 7 cây số ngàn về phía Đông có chợ Mỹ Lồng. Ngày xưa nơi đây có một  thôn nữ rất đẹp. Chàng trai Châu Bình trộm yêu thôn nữ ấy, nhưng rồi thất vọng vì, một hôm người thôn nữ ấy đã cất bước sang ngang. Chàng trai Châu Bình buồn lắm, để tỏ rõ nổi niềm, chàng trai bèn mượn hương vị mắm Còng, loại mắm đặc sản chỉ có ở làng Châu Bình để gửi tâm tình mình đến người thôn nữ Mỹ Lồng:

Thương em muốn tặng mắm Còng,

Nhớ em muốn đến Mỹ Lồng thăm em.

Trách ai duyên nợ xe lầm,

Còng lột anh bắt mùng năm làm gì?

Hôm qua thấy em ra đi,

Mắt anh nhỏ giọt, lòng thì nát tan.

Từ ngày em bước sang ngang,

Vui gì mà ở giang sang mắm Còng!

Và trong dân gian Bến Tre, Còng còn là duyên cớ để đôi trai gái bày tỏ tình cảm với nhau.

Còng nằm kẹt lá còng co,

Gió day còng thụt, gió lò còng lên

Nàng đừng đụng tới cây chanh

Trái chua đừng bẻ, nhánh cành chông gai

(Điệu Lý lu là- Dân ca Bến Tre)

Ở Bến Tre, gần như địa phương nào cũng có còng, nhưng duy nhất chỉ có Châu Bình nổi tiếng với nghề làm mắm còng.

Do Châu Bình có nhiều cánh đồng ngập mặn thích hợp cho môi trường sinh sản và trú ngụ của nhiều loài Còng trên vùng đất nầy, vừa phù hợp cho sự phát triển cây lá dừa nước, đồng thời cũng là môi trường thuận lợi cho muỗi mòng phát triển. Vì vậy, trước đây Châu Bình còn được mệnh danh là xứ nước nặn- chà là gai.

Sau thời gian thực hiện chủ trương ngọt hóa Châu Bình, từ những năm 1990 trở lại đây, Châu Bình đã thực sự thay da, đổi thịt, đang trên đà xây dựng nông thôn mới:“ Điện thắp sáng thôn, đường xe chạy bon bon đến ngõ,…” . Nước mặn, chà là gai, hay như mắm Còng tặng em giờ chỉ còn đọng lại trong ký ức của các bậc cao niên.

Trước đây, do đặc điểm “ nước mặn, chà là gai” nên phần lớn diện tích trên đất Châu Bình là môi trường thuận lợi cho nhiều lòai Còng trú ngụ. (  trước đây cá kèo, tép bạc cũng rất nhiều).

 Không biết tự thuở nào người Châu Bình đã biết khai thác lòai Còng lột trong tự nhiên để chế biến thành món “ mắm Còng đặc sản làm cớ thăm em”. Tuy vậy, không phải lúc nào Còng cũng làm mắm được, mà chỉ làm mắm khi Còng vừa lột xác.

Hàng năm, sắp đến ngày mùng 5 tháng 5al, người dân Châu Bình lo sắm sửa đèn soi Còng. Vào chiều tối ngày mùng 5 tháng 5al khỏang 6-7 giờ, người dân Châu Bình không ai bảo ai vai mang giỏ, tay cầm đèn soi rời nhà, ra ruộng rẫy tìm đến những trũng có nước mặn lên xuống, nhưng còn đọng nước để soi còng. Vì chỉ có những vùng trũng như vậy còng mới tìm đến lột vỏ.

Vào đêm mùng 5 tháng 5al còng từ hang bò lên tìm đến vùng nước trũng trên rẫy để lột vỏ. Còng bắt đầu bò lên khỏi hang lúc trời sập tối.Trễ lắm là từ 7 giờ đến 12 giờ đêm còng lột vỏ xong. Đến gần sáng còng lột sẽ cứng vỏ và bò về hang. Do đó, nếu soi sớm còng ít, soi trễ còng cứng không ngon. Còng lột vỏ rộ vào khỏang từ 9 giờ- 11 giờ đêm.

Cho nên, soi được còng mang về nhà là sơ chế ngay, nếu không, còng cứng sẽ uổng công. Còng làm mắm còng là lọai còng lửa to, có màu đen trắng ( bằng ngón tay cái).

Trước khi ăn mắm còng, nhất thiết phải qua khâu chế biến, bằng cách trộn mắm còng với các phụ liệu khác như sau:

Tỏi, ớt chín đâm nhuyễn ( tùy thích), ít đường, bột ngọt ( mì chính) vừa khẩu vị. Khớm chín gọt bỏ vỏ, bỏ mắt, xắt thành con đủ nhu cầu. Thịt heo ba rọi ram hoặc luột chín xắt lát mỏng theo nhu cầu. Trộn tất cả với mắm còng vừa đủ nhu cầu tiêu dùng .

Mắm còng đã trộn xong có thể thay cho các món ăn khác trong các bữa cơm. Có thể dùng để đãi khách quý, đãi khách trong các bữa tiệc nhân mùa còng lột. Mắm còng ăn kèm với chuối, khế, rau sống sẽ tăng “ hương đồng nội, vị  ngọt quê nhà.”

Cùng với “ ngọt hóa Châu Bình” mắm còng ngày nay không còn nữa, nhưng còng vẫn còn, cho nên người Châu Bình vẫn còn làm mắm còng.

Mắm còng nước.

Mắm còng nước ra đời từ những năm 1995-1996 trở lại đây. Nếu chịu khó đi soi còng, mắm còng nước sẽ có quanh năm. Còng để làm Mắm còng nước cũng là lọai còng lửa, nhưng là lọai còng cứng thường trú ngụ trong các bờ mươn vườn, bờ mía thuộc vùng đất thấp. Do đặc tính thường bò ra khỏi hang để tìm thức ăn và hứng sương vào ban đêm, nên muốn bắt còng phải dùng đèn soi ( ngày nay sử dụng đèn bình ắc-quy để soi), dùng vợt  có tra cán dài để bắt .

Cách làm mắm còng nước như sau:

-Chuẩn bị nguyên vật liệu:

+Còng cứng:  3kg tương đương 5 lít còng.

+Muối íot: 0,500kg.

+Rượu trắng: 01 xị.

+Gạo trắng: 01lon nấu thành cơm, phơi khô, rang vàng, xay nhuyễn ( làm thính).

+Nước đun sôi, để nguội: 5 lít.

+Tỏi, ớt chín đâm nhuyễn; và một ít đường.

+Chai hoặc keo đựng đủ yêu cầu.

-Cách làm mắm:

+Sau khi đem còng về, rửa vài lần bằng nước sạch cho sạch bùn, đất. Rửa xong bắt còng làm thịt. Cách làm thịt còng như sau: dùng dao nhọn chích bỏ miệng, mắt và chích bỏ yếm . Xong, rửa lại còng một lượt.

+Cho còng vào cối đâm nhuyễn. Bỏ vào khai hoặc thau, đổ muối và rượu vào, ủ từ 2- 3 đêm.

+Sử dụng 5 lít nước sôi để nguội cho vào còng đã ủ để vắt lấy nước.

+Trộn thính, tỏi, ớt, đường vào nước còng.

 Cho tất cả vào chai ( keo) đậy kín  từ 5- 10 ngày mang ra ăn. Khi ăn, nêm thêm gia vị cho vừa. Mắm còng nước có thể dùng làm nước chấm thịt bò, lòng bò, thịt heo phay, rau sống, chuối, khế,…, trong các bữa tiệc, hoặc dùng làm nước chan trong các bữa cơm.

 

  Có thể thấy, cây dừa trong quá trình phát triển trên đất cù lao Bến Tre cùng với những sản vật khác đã từng bước góp phần tạo nên bản sắc văn hoá ẩm thực của người Bến Tre.

 

Ngày nay, trong quá trình hội nhập và phát triển, dừa trong văn hóa  ẩm thực Bến Tre vẫn luôn là cơ sở,  nền tảng cho sự kế thừa và phát triển,  là nội lực văn hóa của các thế hệ người Bến Tre, bởi:

“ Tôi lớn lên đã thấy dừa trước ngõ,

              Dừa ru tôi giấc ngủ tuổi thơ …”

Và: “ Thấy dừa thì nhớ Bến Tre…”.

Lư Hội

Phó Chủ tịch Hội DSVH tỉnh Bến Tre

28/09/2012 12:00 SAĐã ban hànhẨm thực1047No
Khu di tích đền thờ và mộ cụ Nguyễn Đình ChiểuKhu di tích đền thờ và mộ cụ Nguyễn Đình Chiểu

Cụ Nguyễn Đình Chiểu tự Mạnh Trạch, hiệu Trọng Phủ, sau khi mù lấy hiệu Hối Trai, sinh ngày 1.7.1822 tại làng Tân Khánh, huyện Bình Dương, phủ Tân Bình, tỉnh Gia Định. Ông đỗ tú tài ở trường thi Gia Định năm 1843. Năm 25 tuổi, ông trở ra Huế học tập, chờ khoa thi năm Kỷ  Dậu  ( năm 1849 ) nhưng chưa kịp thi thì có tin mẹ mất. Trên đường trở về chịu tang mẹ vì quá lo buồn khóc thương ông lâm bệnh và bị mù hai mắt. Khi 3 tỉnh miền Đông rơi vào tay quân Pháp, không chịu sống trong vùng chiếm đóng của giặc, cụ Nguyễn Đình Chiểu cùng gia đình chạy về làng An Đức, tổng Bảo An, tỉnh Vĩnh Long ( nay là huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre ). Tại đây ông dạy học trò, bốc thuốc chữa bệnh cho dân và sáng tác thơ văn. Ông có mối liên hệ chặt chẽ với những sĩ phu yêu nước như Phan Văn Trị, Nguyễn Thông…

Ngày 3.7.188

8 cụ Nguyễn Đình Chiểu qua đời tại làng An Bình Đông, gần chợ Ba

Tri  nay thuộc xã An Đức, huyện Ba Tri.

Hơn một phần tư thế kỷ sống trên đất Bến Tre, cụ Nguyễn Đình Chiểu đã để lại cho nhân dân ở đây một ảnh hưởng to lớn và một di sản tinh thần vô cùng qúy báu, góp phần tạo nên truyền thống kiên cường, bất khuất của một vùng đất anh hùng. Cụ đã dùng ngòi bút để ca ngợi các cuộc khởi nghĩa của nghĩa quân, tố cáo tội ác của giặc Pháp. Cụ kiên quyết chống bọn vua quan bán nước, không hợp tác với giặc, giữ vẹn tấm lòng yêu nước thương dân. Hai câu thơ “Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm/ Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà” trong truyện thơ nôm Dương Từ - Hà Mậu của cụ như một lời tuyên ngôn, khẳng định một chính kiến, một chân lý ngời sáng đến muôn đời. Tác phẩm thơ văn của cụ như truyện thơ Lục Vân Tiên, Dương Từ - Hà Mậu, Ngư tiều y thuật vấn đáp hay các bài thơ điếu, văn tế như Văn tế nghĩa dân chết trận Cần Giuộc, Văn tế lục tỉnh sĩ dân trận vong, Văn điếu Trương Định, thơ điếu Phan Tòng, Phan Thanh Giản… đã thấm sâu vào tâm hồn của nhiều thế hệ. Người Bến Tre và nhân dân cả nước kính trọng lòng yêu nước, quý mến tiết tháo và phẩm chất của cụ - một người đã nâng đạo lý yêu nước, thương dân, trọng nhân nghĩa, không khuất phục cường quyền thành sức mạnh tinh thần đánh giặc cứu nước.

Đặc biệt, truyện thơ Lục Vân Tiên được phổ biến rộng rãi trong dân gian, nhiều người dù không biết chữ nhưng vẫn đọc thuộc làu và nghệ thuật “nói thơ Lục Vân Tiên” đã ra đời, hình thức diễn xướng này làm cho truyện Lục Vân Tiên thêm hấp dẫn và đi vào lòng người.

Trên tạp chí Văn học ( tháng 7.1973 ) nhân kỷ niệm lần thứ 75 ngày mất của cụ, cố Thủ tướng Phạm văn Đồng đã có một nhận xét tinh tế, sống động “Nguyễn Đình Chiểu là ngôi sao sáng trên bầu trời đầy sao nhưng là vì sao có ánh sáng khác thường mà con mắt của chúng ta phải chăm chú nhìn thì mới thấy và càng nhìn càng thấy sáng. Cái ánh sáng khác thường, sáng hơn hết, rực rỡ hơn hết và bao trùm hơn hết của ngôi sao sáng Nguyễn Đình Chiểu là tính chiến đấu bàng bạc trong các tác phẩm của người để lại”.

Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, Hội Văn nghệ Giải phóng Miền Nam đã lập ra giải thưởng Nguyễn Đình Chiểu công bố năm 1965 dành tặng cho các tác giả, tác phẩm nổi bật trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật ở miền Nam. Hiện nay nhiều con đường, trường học, bệnh viện ở Bến Tre và các thành phố lớn trong nước đã được vinh dự mang tên cụ, từ năm 1946 đến 1948, tỉnh Bến Tre được đổi tên là tỉnh Đồ Chiểu.

Khu mộ và đền thờ của cụ Nguyễn Đình Chiểu cách trung tâm thị trấn Ba Tri 2km về phía nam, nay thuộc ấp Giồng Cụt, xã An Đức, huyện Ba Tri. Trong khu di tích có mộ của cụ, mộ bà Lê Thị Điền - người vợ hiền của cụ, mộ bà Sương Nguyệt Anh, con gái nhà thơ.

Đây là nơi an nghỉ cuối cùng của một nhà thơ lớn  yêu nước của dân tộc đồng thời cũng là nhà giáo, người thầy thuốc của nhân dân nửa sau thế kỷ XIX. Di tích được Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận là di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia ngày 27. 4. 1990.

          Nhằm tỏ lòng thành kính đối với cụ Đồ, vừa để phục vụ cho việc tham quan, nghiên cứu, giáo dục truyền thống yêu nước cho các thế hệ, năm 1999, Bộ Văn hóa Thông tin và tỉnh Bến Tre đầu tư xây dựng đền thờ mới, mở rộng khu di tích, khởi công vào ngày 1.7.2000, khánh thành ngày 1.7.2002 với tổng diện tích khu mộ và đền thờ là 13.000m2. Trước cổng đền, phía trái có nhà tiếp đón các đoàn khách, các cá nhân từ mọi miền đất nước về viếng cụ. Từ cổng đền đến nhà bia có sân rộng lát đá chẻ viền cỏ xanh rất khoáng  đạt, khu vực đền còn trồng nhiều cây kiểng qúy, được uốn tỉa công phu. Cả khu vực thành một hệ thống liên hoàn hòa nhập với quang cảnh xanh tươi vốn có của vùng quê An Đức. Đền thờ hình tròn với 3 tầng mái tượng trưng cho ba nghề nghiệp của cụ Đồ Chiểu ( nghề dạy học, bốc thuốc và làm thơ ). Tượng cụ Đồ được làm bằng đồng thau, nặng 1,2 tấn. Mảng  phù điêu bên trái tả cảnh cụ Đồ đọc văn tế “Lục tỉnh sĩ dân trận vong” tại chợ Đập (Ba Tri) năm 1883. Mảng phù điêu bên phải miêu tả trận đánh của Phan Ngọc Tòng tại Giồng Gạch ( xã An Hiệp – Ba Tri ). Nhà bia với 2 tầng mái tượng trưng cho hai cống hiến nổi bật, đó là những áng thơ văn yêu nước kiệt xuất “đã đạt đến độ toàn bích” của cụ, là ngọn cờ đầu của thơ văn yêu nước chống Pháp và những tác phẩm văn học dân gian xuất sắc đánh dấu một bước ngoặt quan trọng của thơ ca Nam Bộ.

          Hàng năm vào ngày 1.7, ngày sinh của cụ, đã trở thành ngày hội truyền thống văn hóa của người Bến Tre để tưởng nhớ nhà thơ yêu nước vào bậc nhất của Nam Bộ nói riêng, của Việt Nam nói chung trong thời kỳ chống Pháp. Lễ hội 1.7 được tổ chức long trọng, trang nghiêm nhưng không kém phần sôi nổi với những hoạt động như biểu diễn võ thuật, múa lân, đánh trống hội, liên hoan đờn ca tài tử, thi hóa trang các nhân vật trong truyện Lục Vân Tiên, thi nấu mâm cơm ngày giỗ, triển lãm ảnh nghệ thuật, thi viết thư pháp, ngâm thơ, diễn cải lương, tuồng cổ…

          Nhưng trên hết, ngày hội này là để nhắc nhở mọi người nhớ đến tài năng, đức độ của bậc hiền tài. Tấm gương Nguyễn Đình Chiểu đã đi vào sử sách, đi vào lòng người, không chỉ ở Bến Tre mà đã in sâu, lan rộng khắp vùng, vang xa cả nước. Nhiều nhà nghiên cứu văn học, nghiên cứu lịch sử đã viết về ông, không tiếc lời ca ngợi, đánh giá cao những áng văn chương tuyệt tác của ông, nhưng hơn hết chính là nó xuất phát từ tâm hồn, tư tưởng của một con người yêu nước thương dân đến cực độ. Chính vì thế, ngày 1.7 đã trở thành ngày hội lớn. Người hành hương viếng cụ hàng ngày vốn đã đông nay càng thêm đông đảo.

 

Thu Thảo

25/09/2012 12:00 SAĐã ban hànhDi tích lịch sử văn hóa2058No
 CĂN CỨ QUÂN KHU ỦY SÀI GÒN  -  GIA ĐỊNH CĂN CỨ QUÂN KHU ỦY SÀI GÒN  -  GIA ĐỊNH

                      

          Cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1968 thắng lợi, làm thay đổi chiến lược toàn cầu của Đế Quốc Mỹ, “chiến tranh cục bộ” bị phá sản hoàn toàn. Mỹ phải rút quân viễn chinh về nước. Nich-xơn thay Giôn-xơn làm tổng thống và đã đưa ra chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” với quyết tâm “bình định cấp tốc”, đẩy mạnh chiến tranh xâm lược ở miền Nam Việt Nam. Chiến trường miền Nam trở nên khốc liệt do chính sách “quét và giữ” rồi “bình định cấp tốc” của ngụy.  Các vùng căn cứ  cách mạng ven đô Sài Gòn như Củ Chi, Sông Bé, Đồng Nai…  liên tục bị đánh phá ác liệt hơn bao giờ hết. Căn cứ Khu ủy  Sài  Gòn – Gia Định  - cơ quan đầu não chỉ đạo cuộc đấu tranh chống Mỹ ngụy ở khu vực Sài gòn – Gia Định đóng tại Củ Chi  gặp nhiều khó khăn. Trước tình hình đó, vào tháng 8-1968, Thường vụ Trung ương cục miền Nam quyết định chuyển hướng hoạt động, chuyển hướng tổ chức để bảo tồn cơ sở.

          Tháng 6-1969, sau khi thống nhất giữa Thường vụ Khu ủy và lãnh đạo Tỉnh ủy Bến Tre, cơ quan lãnh đạo Khu ủy Sài Gòn- Gia Định chuyển về xây dựng căn cứ tại xã Tân Phú Tây và xã Thành An huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre, còn được gọi với mật danh là Y4 hay T4.

Vùng đất Bến Tre bốn bề sông nước với hệ thống kinh rạch chằng chịt, giao thông không thuận lợi. Nhân dân Bến Tre vốn có truyền thống  yêu nước cách mạng một lòng theo Đảng, theo cách mạng, không sợ hiểm nguy chết chóc, với tay không đã làm nên cuộc Đồng Khởi năm 1960 “long trời lở đất” và được địch coi là “cái nôi cộng sản”.  Dựa trên những điều kiện  thuận lợi đó, Khu ủy Sài Gòn – Gia Định đã quyết định  chọn xã Tân Phú Tây và Thành An thuộc huyện Mỏ Cày tỉnh Bến Tre để làm căn cứ. Hai xã là vùng giải phóng liên hoàn nhau, địa hình hiểm trở chia cắt bởi kênh rạch, rừng dừa bạt ngàn, rừng mua rậm rạp nối tiếp nhau làm thành một hàng rào che chắn phía ngoài. Địch không thể hành quân bằng xe cơ giới, thiết giáp, cũng không thuận lợi cho trực thăng đổ bộ. Bên cạnh đó, các xã như Thạnh Ngãi, Hòa Lộc, Phước Mỹ Trung… là những đầu mối liên lạc công khai về nội đô và ngược lại.

 Để chuẩn bị  cho Khu ủy về đóng căn cứ, những cán  bộ cơ sở và các chiến sĩ trẻ đa phần là người địa phương bắt tay vào xây dựng. Căn cứ  được xây dựng trải dài  trong các khu vườn  liên tiếp nhau từ ấp 5 xã Tân Phú Tây đến ấp 6 xã Thành An.  Bằng những vật liệu thô sơ  chủ yếu  là  sử dụng những thứ có sẵn ở tại chỗ, các du kích địa phương đã xây  16 hầm nổi và 14 hầm bí mật. Tất cả được bố trí chặt chẽ để có thể chi viện cho nhau lúc cần thiết. Hầm bí mật là những ống cống kín làm bằng cát, đá, xi măng  được chôn vào lòng đất,  dùng làm nơi trú ẩn khi có  nguy hiểm. Hầm nổi  nằm  trên mặt đất được xây dựng kiên cố, có khả năng chịu đựng pháo 105 ly. Hầm sâu 0.5m làm bằng thân dừa cắt đoạn kết lại vừa làm vách vừa làm nóc. Bên ngoài là lớp đất dày, mái lợp tranh hoặc được ngụy trang bằng đất phía trên là cây cối.  Các hầm nổi  là  nơi ở,  làm việc, hội họp của các đồng chí lãnh đạo Khu ủy, của ban y tế, của bộ phận điện đài cơ yếu, đặc biệt còn có một  hầm được đặt tên  là nhà hạnh phúc (nơi ở đêm tuyên hôn của chiến sĩ Y4).  Tất cả đều được đảm bảo về mặt phòng thủ, an toàn, bí mật cho Khu ủy hoạt động, được trang bị vũ khí mạnh (đại liên, trung liên, tiểu liên, cối 60, B40, B41…)

Khoảng tháng 7-1969, Khu ủy Sài Gòn- Gia Định do đồng chí Võ Văn Kiệt là  bí thư, và hai phó Bí thư là đồng chí Trần Bạch Đằng và đồng chí Mai Chí Thọ (Năm Xuân) lãnh đạo,  chia thành nhiều bộ phận nhỏ, bằng nhiều hình thức bí mật di chuyển đến căn cứ xã Tân Phú Tây. Thời gian đóng tại nơi đây, lãnh đạo Khu ủy Sài Gòn- Gia Định đã nhận được sự cưu mang đầy nghĩa tình của quân và dân huyện Mỏ Cày.

          Sau một thời gian, địch đã phát hiện lãnh đạo Khu ủy hoạt động tại xã Tân Phú Tây. Chúng đã nhiều lần đổ quân đánh phá nơi đây và các xã lân cận như: Phước Mỹ Trung, Thành An, Hòa Lộc… Chúng chia nhỏ từng tiểu đoàn cắt  ngang Tân Phú Tây, đánh thẳng vào căn cứ. Nhưng những cuộc hành quân càn quét này đều bị lực lượng bảo vệ Khu ủy và lực lượng vũ trang tỉnh bẻ gãy, tiêu diệt hàng trăm tên địch. Trước tình hình đó, đồng chí Võ Văn Kiệt họp lãnh đạo Khu ủy, quyết định rút khỏi vùng căn cứ trong thời gian ngắn nhất.

          Sau chiến tranh, nơi đây gần như bị phá hủy hoàn toàn, chỉ còn lại dấu tích của thành vách hầm nổi mô đất. Di tích này đã được Bộ Văn hóa Thông tin ra quyết định công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia vào ngày 23/12/1995

 Để lưu lại dấu ấn của một thời gian khổ hi sinh, nhưng hào hùng oanh liệt, thắm đượm tình nghĩa quân dân, theo quyết định số 2031/QĐ-UB ngày 26/11/1997, Đảng bộ và nhân dân tỉnh Bến Tre đã phục chế lại hai hầm trú ẩn. Hầm số 1 là hầm hội họp điện đài cơ yếu, hầm có hình chữ nhật, được làm bằng xi măng giả thân dừa làm đà ngang, vách là lớp đất dày, bia chắn đạn được làm bằng xi măng giả thân dừa đặt sát nhau ở hai cửa ra vào, nền đất đào sâu 0.5m. Hầm số 2 là nơi ở và làm việc của đồng chí Võ Văn Kiệt, vách là lớp đất dày, mái lợp tranh, có hai cửa ra vào, nền đất đào sâu 0.5m . Di tích hiện tọa lạc trên khu đất của ông Nguyễn Văn Sáu, thuộc ấp 5, xã Tân Phú Tây, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre./.

                     Võ Thị Kim Duyên

 

 

 

25/09/2012 12:00 SAĐã ban hànhDi tích lịch sử văn hóa866No
ĐÌNH BÌNH HÒAĐÌNH BÌNH HÒA

Đình nằm trên khu đất giồng ở ấp Bình Minh, làng Bình Hòa, nay thuộc thị trấn Giồng Trôm, nằm cạnh đường tỉnh 885, cách Thành phố Bến Tre 16 km, có thể đến bằng đường bộ hoặc đường thủy.

Đình Bình Hòa được xếp trong danh mục 20 ngôi đình lớn và đẹp của tỉnh Bến Tre, là ngôi đình cổ nhất ở cù lao Bảo. Những tài liệu còn lưu giữ được đến nay cho biết đình được lập vào thập kỷ thứ 2, thế kỷ thứ XIX, tính đến nay gần 200 năm. Ngôi đình có quy mô kiến trúc tương đối lớn còn giữ được đến ngày nay, không phải là dạng nguyên sơ của nó, mà đã được xây cất lại vào năm 1903. Từ khi khởi công xây dựng đến khi hoàn tất phải mất trên 10 năm (1903-1913), kể cả công trình kiến trúc bên ngoài và trang trí nội điện, đặc biệt là phần điêu khắc gỗ. Đó là kết quả lao động công phu của những nhóm thợ rước từ miền Trung vào, có tay nghề và trình độ mỹ thuật cao. Đình được sắc phong vào năm Tự Đức thứ 5 (1852).

Về mặt kiến trúc bên trong, chất liệu chính là gỗ tứ thiết và kết cấu bắng mộng, chốt, kết hợp chặt chẽ với nghệ thuật điêu khắc, mà chủ yếu là những nét tạc bằng đục của nghệ nhân ngay trên gỗ của những vì kèo, xuyên, trính, hoành phi,…ở các gian chánh đường và thính đường. Qua thử thách của thời gian với nắng mưa và khí hậu ẩm thấp, đặc biệt tác động phá hoại trực tiếp của bom đạn trong suốt 30 năm, ngôi đình vẫn đứng vững. Điều đó nói lên trình độ kỹ thuật và ý thức trách nhiệm của đội ngũ thợ xây dựng.

Về trang trí bên trong cũng như những công trình nghệ thuật khác ở bên ngoài của đình, vẫn là sự kết hợp yếu tố nghệ thuật cung đình với nghệ thuật tôn giáo và được dân gian hóa ở mức độ nhất định. Đó là những đề tài long, lân, quy, phụng, chim-muông, sen-cua, trúc-tước, nho-sóc, bần-cò v.v…

Đình Bình Hòa còn là chứng tích ghi nhớ những tội ác của đội quân UMDC của Léon Leroy (thời KCCP) và đặc biệt bọn “công an Ngô Quyền” trong những chiến dịch “tố cộng”, “diệt cộng” đẫm máu dưới thời Ngô Đình Diệm.

Hiện còn hơn 100 hiện vật điêu khắc gỗ tinh vi, sắc sảo, gồm những bức hoành phi, liễn đối, bao lam, phù điêu, hương án, đồ lễ bộ…được lưu giữ. Hằng năm có hai dịp cùng kỳ yên vào rằm tháng giêng và rằm tháng chạp (âl).

Đình Bình Hòa được Bộ Văn hóa – Thông tin ra quyết định công nhận là di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia ngày 7-1-1993.

 

25/09/2012 12:00 SAĐã ban hànhDi tích lịch sử văn hóa534No
ĐÌNH PHÚ LỄĐÌNH PHÚ LỄ

 

Căn cứ vào bia còn lưu lại tại đình cho biết niên đại xây đình vào năm Minh Mạng thứ 7 (1826) trên cơ sở ngôi đình bằng gỗ lá, được sắc phong vào năm Tự Đức thứ 5 (1852). Thềm và móng được cấu trúc bằng đá xanh, bên trên xây gạch. Đình gồm tất cả 10 gian: 6 gian chính dính liền với mái và 4 gian phụ bố trí theo lối chữ “Đinh”. Đình chính gồm võ ca, viên đường, thính đường, chánh đường và hậu đường. Cột đình bằng gỗ lim, đường kính 40cm, mái lợp ngói vải cá

Do chiến tranh và thời gian, các công trình kiến trúc và các hiện vật bài trí bên trong (hương án, cuốn thư, hoành phi, bình phong, bao lam, đồ lễ bộ…) đã bị xuống cấp và hư hỏng nhiều. tuy nhiên, những phần cơ bản về kiến trúc vẫn còn nguyên, không bị bom đạn tàn phá, đặc biệt những tác phẩm nghệ thuật điêu khắc gỗ sơn son, thếp vàng còn lưu giữ được đến hôm nay, đã nói lên rằng đình Phú Lễ là đình có quy mô lớn và đẹp nhất của các làng quê ven biển Bến Tre. Nét đẹp của đình một phần còn do cảnh quan thiên nhiên bên ngoài. Khuôn viên của đình khá rộng, trải ra trên khu đất giồng cao ráo, với hàng chục cây cổ thụ tỏa bóng.

Hàng năm, hội cúng đình còn gọi là lễ Kỳ yên tổ chức vào rằm tháng 3 (âl). Vì là làng lớn, đông dân, nên trước đây mỗi năm trong kỳ tế xuân đều có rước đoàn hát bội về biểu diễn nhiều đêm liền. Lễ tế thu, thường tổ chức nhỏ hơn vào giữa tháng 11 (âl), dân gian cũng gọi là lễ Cầu bông.

Đình Phú Lễ được Bộ Văn hóa – Thông tin ra quyết định công nhận là di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia ngày 7-1-1993.

25/09/2012 12:00 SAĐã ban hànhDi tích lịch sử văn hóa546No
CHÙA TUYÊN LINHCHÙA TUYÊN LINH

 

Chùa Tuyên Linh được xây dựng từ năm Tân Dậu (1861), dưới triều Tự Đức năm thứ 14, nằm sát bên rạch Tân Hương, trên đường từ cái Bần đi Phú Khánh, thuộc xã Minh Đức, huyện Mỏ Cày. So với Hội Tôn cổ tự ở xã Quới Sơn, huyện Châu Thành, thì chùa Tuyên Linh không cổ bằng, nhưng nơi đây từng diễn ra nhiều sự kiện lịch sử đáng chú ý.

Chùa được xây dựng năm 1861, do Hòa Thượng Khánh Phong trụ trì. Đến năm 1907, nhà sư Lê Khánh Hòa, pháp danh là Thích Như Trí, quê ở xã Phú Lễ huyện Ba Tri, vốn là một vị cao tăng tinh thông phật học, về trụ trì tại chùa này. Tại đây, hòa thượng Lê Khánh Hòa đã mở mang việc thuyết giảng giáo lý nhà Phật, đào tạo môn sinh. Nhờ hiểu rộng, đi nhiều nơi, có vốn Nho học, lại biết cả chữ quốc ngữ, nên ông được tín đồ, các cư sĩ Phật giáo tín nhiệm. Hòa thượng là người sáng lập ra Nam Kỳ Phật học hội và Lưỡng xuyên Phật học hội quy tụ nhiều cao tăng, cư sỹ Phật giáo ở Nam Kỳ lúc bấy giờ, đồng thời là chủ bút tạp chí Từ bi âm, giám đốc Phật học tùng thư.

Năm 1930, nhân dịp chùa được trùng tu, hòa thượng Lê Khánh Hòa đổi tên Tiên Linh tự thành Tuyên Linh tự. Từ đấy chùa được gọi bằng tên mới: Tuyên Linh.

Theo tài liệu của Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng tỉnh Đồng Tháp, thì vào khoảng cuối năm 1962, cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc – thân sinh của chủ tịch Hồ Chí Minh – đã cùng một vị cao tăng của chùa Từ Đàm ở Huế ghé lại và tá túc  tại chùa Tuyên Linh một thời Gian.

Theo sư Thái Không, cụ Phó bảng được sự bảo bọc, giúp đỡ của hòa thượng Lê Khánh Hòa, trong thời gian lưu trú tại chùa, đã mở lớp dạy học, xem mạch, bốc thuốc cho nhân dân trong vùng. Tuy thời gian ở đây không lâu, cụ Nguyễn Sinh Sắc có quan hệ với Trần Văn An, Huỳnh Khắc Mẫn, Lê Văn Phát. Nhiều người trong số này về sau trở thành lớp đảng viên đầu tiên của Đảng bộ Bến Tre (1930).

Khi Cách mạng tháng tám 1845 thành công, hòa thượng Lê Khánh Hòa đã động viên các nhà sư và tín đồ Phật giáo trong tỉnh tham gia vào các hoạt động cách mạng và kháng chiến. Năm 1947, do tuổi già sức yếu, trên giường bệnh, ông bình tĩnh đọc lời di ngôn cho môn đồ chép lại, sắp xếp công việc đạo, căn dặn học trò thân tín vận động tín đồ tích cực tham gia kháng chiến, tin tưởng vào chính phủ cụ Hồ, cùng đồng bào cả nước đấu tranh giành độc lập. Ngày 19-6-1947, biết minh không qua khỏi, ông bảo học trò tắm rửa sạch sẽ, thay đạo phục cho ông, rồi day mặc về hướng Bắc, nói những lời chúc tụng cuối cùng về nhà nước độc lập, về sức khỏe của Hồ Chủ Tịch, sau đó niệm Phật rồi tắt thở.

          Năm 1956, để tỏ lòng tôn kính một vị chân tu yêu nước, giáo hội Phật giáo tăng già và Lục hòa tăng đã cùng các tín đồ tổ chức lễ Trà tỳ (tức lễ thiêu hài cốt đưa tro vào bảo tháp) tại chùa Tuyên Linh.

Thời kháng chiến chống Pháp, chùa Tuyên Linh là cơ sở nuôi giấu cán bộ cách mạng. Trong những năm trước Đồng Khởi, trong thế kìm kẹp khắc nghiệt của Mỹ, Diệm, vùng Tân Hương – Minh Đức, nơi có ngôi chùa Tuyên Linh, vẫn là nơi có phong trào mạnh. Các cơ quan Huyện ủy Mỏ Cày và Tỉnh ủy Bến Tre đã từng trú đóng tại đây trong sự đùm bọc của nhân dân và tín đồ đạo Phật giáo giữa những ngày khó khăn nhất của cách mạng.

 

Chùa được Bộ Văn hóa – Thông tin ra quyết định công nhận là di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia ngày 20-7-1994.

 

 

25/09/2012 12:00 SAĐã ban hànhDi tích lịch sử văn hóa780No
CÁC CHỨNG TÍCH VỀ CUỘC THẢM SÁT 286 NGƯỜI DÂN VÔ TỘI  DO THỰC DÂN PHÁP TIẾN HÀNH NĂM 1947CÁC CHỨNG TÍCH VỀ CUỘC THẢM SÁT 286 NGƯỜI DÂN VÔ TỘI  DO THỰC DÂN PHÁP TIẾN HÀNH NĂM 1947

“Các chứng tích về cuộc thảm sát 286 người dân vô tội do thực dân Pháp tiến hành năm 1947” được Bộ Văn hóa Thông tin ra quyết định số: 2001/QĐ-BVHTT ngày 19 tháng 01 năm 2001 công nhận là di tích Lịch sử – Văn hóa cấp quốc gia. Đây là địa điểm đã xảy ra cuộc thảm sát dã man nhất, điển hình nhất đối với đồng bào Bến Tre nói riêng, vùng Nam bộ nói chung trong rất nhiều cuộc càn quét nhằm thực thi chính sách xâm lược, cai trị của thực dân Pháp mà đại diện cho chúng là Léon-Leroy cùng đội quân cuồng tín của hắn.

Năm 1947, ấp Cầu Hòa và ấp Kinh Cũ thuộc làng Mỹ Thạnh, quận Sóc Sãi, tổng Bảo Thành, tỉnh Bến Tre; là nơi phong trào cách mạng phát triển mạnh mẽ; vùng căn cứ của huyện Giồng Trôm và các xã của vùng Bình Đại. Đây còn là tuyến phòng thủ quan trọng trong việc kiểm soát đường thủy từ kinh Chẹt Sậy đến vàm An Hóa, làm cắt đứt hệ thống giao thông thủy nối Thị xã Bến Tre với Mỹ Tho. Tuyến giao thông bộ từ thị xã Bến Tre đi Giồng Trôm, Ba Tri cũng bị ta đánh phá, cắt đứt. Trước tình hình đó, thực dân Pháp đã nhiều lần đổ quân càn quét nhưng đều bị thất bại do lực lượng cách mạng được sự đùm bọc của nhân dân. Chúng quay sang đàn áp, khủng bố hòng làm cho quần chúng khiếp sợ.

Rạng sáng 10 tháng 01 năm 1947 (tức 19 tháng Chạp năm Bính Tuất), tên Thiếu úy Léon-Leroy chỉ huy khoảng 02 trung đội lính Lê dương trong đội quân UMDC (Unité Mobile Defense des Chrétiennestés – đơn vị cơ động bảo vệ dân theo đạo Thiên chúa) mà đồng bào thường gọi là đội quân “Uống máu dân chúng”, với khẩu hiệu “đốt sạch, giết sạch, phá sạch” , đổ quân tại Vàm Hàn rồi chia thành hai cánh tiến vào ấp cầu Hòa và ấp Kinh Cũ. Chúng giết người rất man rợ, gặp gì giết nấy không chừa một sinh vật nào… Cuộc thảm sát kéo dài đến 11 giờ. Sau khi chúng rút quân, những người sống sót trở về tìm người thân. Một cảnh tượng hãi hùng: kẻ chết cháy, người chết đâm; người bị bắn bể đầu; gia súc chết ngổn ngang; nhà cửa trở thành đống tro tàn; công cụ sản xuất, vật dụng sinh hoạt bị đập phá; cây cối, vườn tược tiêu điều, xơ xác, …. Người chết phần lớn thi thể không còn nguyên vẹn, có người bị cháy đến nổi không nhận dạng được. Không đủ áo quan, không có đồ để khâm liệm, phải dùng lá dừa nước, lá chuối khô thay thế và thi thể người chết được chôn cất thành những nấm mồ tập thể trong nỗi đau tột cùng của  những người may mắn sống sót.

Trong trận này có hơn 286 người dân vô tội bị tàn sát mà đa số là phụ nữ, trẻ em, người già yếu với trên 65 hộ; gia đình có số người chết nhiều nhất là 17 người và rất nhiều gia đình không còn một ai sống sót; thiêu hủy hàng trăm ngôi nhà cùng nhiều gia súc, gia cầm.

Ngày 19 tháng Chạp đã ghi vào lịch sử và là ngày giỗ hội hàng năm của người dân hai ấp: ấp 4 (Cầu Hòa), ấp 2 (Kinh Cũ) – xã Phong Nẫm – huyện Giồng Trôm – tỉnh Bến Tre.

Di tích hiện tọa lạc tại ấp 4 (Cầu Hòa) và ấp 2 (Kinh Cũ) - xã Phong Nẫm - huyện Giồng Trôm - tỉnh Bến Tre; có diện tích tự nhiên khoảng 65 ha; dài khoảng 3 km theo đường bộ; cách Thị xã Bến Tre 7 km về hướng Đông; giáp ấp 3 – Phong Nẫm và các xã: Mỹ Thạnh, Lương Hòa (Giồng Trôm), Hữu Định (Châu Thành). “Các chứng tích về cuộc thảm sát 286 người dân vô tội do thực dân Pháp tiến hành năm 1947” với 11 địa điểm (trong cuộc khảo sát để lập hồ sơ đề nghị công nhận di tích của Bảo tàng Bến Tre). Sự kiện xảy ra đã trên 60 năm nên diện mạo, quang cảnh của di tích cũng có nhiều thay đổi theo thời gian: dân số phát triển đông hơn, nhà cửa đông đúc hơn, đất đai được khai hoang để canh tác và cả một vai ngôi mộ tập thể cũng được thân nhân, gia đình cải táng, di dời, .... Chỉ riêng các địa điểm đổ quân và rút quân của địch là không đổi. Hiện tại thì di tích chỉ còn lại 08 địa điểm theo như cuộc khảo sát gần nhất vào cuối năm 2007. Cụ thể:

+ Vàm Hàn (nằm trên kinh Chẹt Sậy), nơi thực dân Pháp đỗ quân.

          + Bến đò xã Phong Nẫm - tại ấp 2 (Kinh Cũ), nơi thực dân Pháp điểm quân số để rút quân về An Hóa.

+ Khu mộ nhà ông Tống Viết Phát, tọa lạc tại ấp Cầu Hòa (ấp 4) - xã Phong Nẫm, gồm 02 ngôi mộ chôn tổng cộng 19 người (01 mộ chôn 11 người và 01 mộ chôn 08 người).

+ Khu mộ nhà ông Nguyễn Văn Oảnh, tọa lạc tại ấp Kinh Cũ (ấp 2) - xã Phong Nẫm, gồm 03 ngôi mộ chôn tổng cộng 17 người (01 mộ chôn 07 người; 02 mộ, mỗi mộ chôn 05 người).

+ Khu mộ nhà ông Võ Viết Phát (Kỳ Phan), tọa lạc tại ấp 2 - xã Phong Nẫm, gồm 02 ngôi mộ (01 mộ chôn 05 người và 01 mộ chôn 06 người).

+ Khu mộ nhà ông Đỗ Tài, tọa lạc tại ấp 2 - xã Phong Nẫm, có 01 mộ chôn 06 người, đây là gia đình bị thực dân Pháp tàn sát toàn bộ.

+ Khu mộ nhà ông Chung Tấn Lộc (Chung Cẩm Vân), tọa lạc tại ấp 2 - xã Phong Nẫm, 01 mộ chôn 09 người.

+ Khu mộ nhà ông Lê Văn Lưu (7 Nghệ), tọa lạc tại ấp Cầu Hòa (ấp 4) - xã Phong Nẫm, gồm 04 ngôi mộ (01 mộ chôn 02 người, 02 mộ chôn 06 người).

Để giáo dục truyền thống yêu nước cho các thế hệ, nhất là thanh thiếu niên, tại ngã tư Cầu Hòa, “Bia căm thù” đã được xây dựng vào năm 1985. Hàng năm, vào ngày giỗ hội, nhân dân trong xã Phong Nẫm đến đặt vòng hoa và thắp hương tưởng niệm những nạn nhân vô tội của thực dân Pháp. Tiếp đó, bia đá và phòng trưng bày một số tư liệu, hình ảnh, hiện vật còn sót lại sau cuộc thảm sát được khởi công xây dựng vào ngày 29 tháng 12 năm 2005, trên khu đất rộng 2.166,3m2  bên cạnh “Bia căm thù” và được khánh thành vào dịp kỷ niệm 60 năm ngày 286 người dân vô tội của hai ấp: ấp 4 (Cầu Hòa) và ấp 2 (Kinh Cũ), xã Phong Nẫm, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre bị thực dân Pháp sát hại./.

Cao Thị Thái Vân

 

 

25/09/2012 12:00 SAĐã ban hànhDi tích lịch sử văn hóa629No
Chiếc nôi của Đảng bộ Bến Tre                   Chiếc nôi của Đảng bộ Bến Tre                  

                                       

 Đảng bộ Bến Tre đã lãnh đạo  nhân dân Bến Tre cùng cả nước hoàn thành 2  cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ,  giành độc lập cho dân tộc.  Lịch sử đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc  của nhân dân Bến Tre là những trang anh hùng ca bi tráng, được khởi đầu từ sự ra đời của chi bộ Đảng cộng sản đầu tiên, tại xã Tân Xuân, huyện Ba Tri,   tỉnh Bến Tre vào tháng 4 năm 1930.

Tân Xuân là một xã  thuộc cù lao Bảo,  nằm ven sông Ba Lai, cách Thị trấn Ba Tri khoảng 12 km, giáp với các xã Bảo Thạnh, Mỹ Chánh, Mỹ Nhơn, Phước Tuy của huyện  Ba Tri. Nhân dân xã Tân Xuân vốn có truyền thống yêu nước chống ngoại xâm là môi trường thuận lợi  cho các phong trào cách mạng phát triển.

 Từ  năm 1927,   phong trào Việt Nam Thanh Niên cách mạng đồng chí Hội  phát triển mạnh  ở tỉnh Bến Tre là tiền đề cho sự ra đời của tổ chức Đảng cộng sản.  Sau ngày Đảng Cộng sản Đông Dương được  thành lập (3.2.1930),   Tỉnh ủy Lâm thời Bến Tre - Mỹ Tho đã cử ban cán sự về Bến Tre gầy dựng cơ sở Đảng.  Trên cơ sở những phong trào yêu nước chống  Pháp trước đó và tổ chức Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội ở  các địa phương, đồng chí Nguyễn Văn Ân – thành viên của ban cán sự,  đã chọn xã Tân Xuân, huyện Ba Tri  là nơi gầy dựng cơ sở Đảng đầu tiên.

Đầu tháng 4 năm 1930,  nhóm Thanh Niên cách mạng đồng chí hội  của xã Tân Xuân   được kết nạp vào  tổ chức  Đảng Cộng Sản Đông Dương. Đến cuối tháng 4 năm 1930, đội ngũ đảng viên trong xã có trên 10 người. Nhận thấy đủ điều kiện để thành  lập một chi bộ, đồng chí  Nguyễn Văn Ân thay mặt Tỉnh ủy Lâm thời Mỹ Tho – Bến Tre,  đứng ra thành lập chi bộ Đảng cộng sản Đông Dương xã Tân Xuân. Cuộc họp thành lập  chi bộ  được tổ chức tại nhà ông Nguyễn Văn Cung ở ấp Tân Hòa, xã Tân Xuân.  Tại đây, đồng chí Nguyễn Văn Trí thay mặt Tỉnh ủy Lâm thời Mỹ Tho – Bến Tre,   công nhận  11 đồng chí đảng viên mới 2,  đồng thời công nhận chi bộ Đảng cộng sản xã Tân Xuân là chi bộ  được thành lập đầu tiên ở Bến Tre. Đồng chí Trần Văn An được cử làm bí thư chi bộ.

  Tuy mới vừa thành lập nhưng  nhân kỷ niệm ngày Quốc tế lao động (1.5) và để tạo ảnh hưởng sâu rộng trong quần chúng,  chi bộ  Đảng  cộng sản Đông Dương  xã Tân Xuân  quyết định tổ chức cuộc mít-tinh tại ngã ba Cây Da Đôi 3 (ấp Tân Hòa (ấp 5), xã Tân Xuân). Cuộc mít tinh  được tổ chức  vào chiều tối ngày1 tháng 5 năm 1930 với hơn 200 quần chúng trong xã và các xã lân cận tham dự. Đồng chí Trần Văn An, Bí thư chi bộ Đảng đứng lên đọc lời hiệu triệu, vạch rõ tội ác của bọn thực dân xâm lược Pháp và bọn tay sai, vận động quần chúng đứng lên chống Pháp. Lá cờ đỏ búa liềm  bay phấp phới trên ngọn cây da đôi. Cuộc mít tinh sau đó trở thành cuộc  biểu tình tuần hành  biểu dương lực lượng. Đồng chí Trần Văn An cầm cờ đỏ búa liềm dẫn đầu đoàn biểu tình, theo sau là quần chúng cầm băng cờ, biểu ngữ, trang bị vũ khí thô sơ, tuần hành qua các ấp trong xã, nổi trống mõ, hô vang khẩu hiệu rồi giải tán.

 Cuộc biểu tình đầu tiên do chi bộ  Đảng xã Tân Xuân tổ chức thành công tốt đẹp, cổ vũ mạnh mẽ tinh thần cách mạng trong nhân dân, chứng tỏ đường lối của Đảng là phù hợp với nguyện vọng của nhân dân.

Những đảng viên trong chi bộ Tân Xuân  là những hạt giống đỏ đầu tiên của ba dãy cù lao. Từ chi bộ   Đảng đầu tiên những  chi bộ Đảng  cộng sản  khác lần lượt hình thành  và  phát triển   thành Đảng bộ tỉnh Bến Tre.    Với  sự kiện  ngày 1. 5. 1930,  Ngã ba Cây da Đôi  đi vào lịch sử  và   được xem  là nơi thành lập chi bộ Đảng Cộng Sản  đầu tiên của tỉnh Bến Tre. Cây da đôi ngày xưa đã chết trong chiến tranh. Sau ngày miền Nam giải phóng (30.4.1975), ông Huỳnh Thiên Niên, đảng viên của chi bộ Tân Xuân ngày trước,  đã trồng lại hai cây da khác.  Năm 1986, một  tấm bia bằng xi măng được dựng tại Ngã ba  để kỷ niệm sự kiện trọng đại nầy. Địa điểm Ngã ba Cây Da Đôi và nhà ông Nguyễn Văn Cung  đã được công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia vào năm 1997.

Năm 2006,  tại  ngã ba Cây da Đôi, đã xây dựng  ngôi nhà  trưng bày giới thiệu  về  sự ra đời của chi bộ  Đảng cộng sản đầu tiên của tỉnh.  Phía trước ngôi nhà là    tấm bia   mang hình lá cờ Đảng cách điệu  mũi nhọn như mũi con thuyền đang lướt về phía trước, chiếc búa như  là cột buồm đứng thẳng,  trên thân cờ là hình hoa hướng dương với 11 cánh tượng trưng cho 11  đảng viên của chi bộ đầu tiên. Bên dưới bia  là bức phù điêu  tái hiện  quang cảnh quần chúng  với  giáo mác, gậy  gộc,  băng cờ, từ các hướng kéo về ngã ba Cây  Da Đôi, trong đêm 1.5.1930.  Ngôi nhà có  phòng trưng bày   hơn 50  hiện vật, hình ảnh, tư liệu  khái quát  lại quá trình ra đời của chi bộ  đầu tiên.

  Chiến tranh đã qua đi, lịch sử Bến Tre bước sang một giai đoạn mới nhưng Ngã Ba cây da Đôi  xã Tân Xuân, cái nôi của Đảng bộ Bến Tre, mãi mãi  vẫn là  điểm son  của lịch sử cách mạng Bến Tre ./.

 

Nguyễn Thị Thu Thủy

 

25/09/2012 12:00 SAĐã ban hànhDi tích lịch sử văn hóa746No
DANH NHÂN VÕ TRƯỜNG TOẢNDANH NHÂN VÕ TRƯỜNG TOẢN

Võ Trường Toản là danh nhân được nhiều người biết đến, cụ là nhà nho nổi tiếng ở Nam Bộ trong thế kỷ XVIII. Thân thế và quê hương của cụ chưa xác định rõ, có người nói  cụ sinh trưởng tại Bình Dương thuộc Gia Định, nhưng cũng có người nói  tổ tiên cụ gốc Miền Trung, di cư vào sinh sống ở huyện Bình Dương (nay là TP.Hồ Chí Minh). Về ngày tháng năm sinh đến nay vẫn chưa có tài liệu nào ghi lại, chỉ biết cụ họ Võ, húy Trường Toản, kết duyên với người vợ hiền thục và chỉ sinh được một người con gái, nhưng bị bệnh mất từ thuở nhỏ.

Là người học rộng, đạo cao đức trọng, có trí thông minh trác tuyệt, cụ không đi thi để ra làm quan mà ở ẩn, mở trường dạy học ở Hòa Hưng (khu vực Q.3-TP. Hồ Chí Minh bây giờ). Học trò của cụ có tới mấy trăm người, có những người nổi tiếng như Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân Tịnh, Lê Quang Định, người đời gọi là “Gia Định tam gia thi” (ba nhà thơ nổi tiếng đất Gia Định), Ngô Tùng Châu, Phạm Ngọc Uẩn, Lê Bá Phẩm, Phạm Đăng Hưng…. Những nho sĩ tiết tháo thuộc thế hệ sau như Nguyễn Đình Chiểu, Bùi Hữu Nghĩa, Phan Văn Trị… cũng chịu ảnh hưởng về đạo đức, học phong, sĩ khí của nhà giáo họ Võ. Người đời xưng tụng cụ là “Vạn thế sư biểu”, ngoài sự nghiệp trồng người, cụ còn là một nhà thơ, trước tác của nhà thơ đã  thất lạc, chỉ còn lưu truyền duy nhất một bài Phú “Hoài cổ” với 24 “đôi câu”. Bằng bút pháp cổ điển- những điển tích, hình ảnh đều lấy từ sử sách của Trung Hoa, cụ muốn ôn chuyện cũ để giáo huấn người đời về “lòng nhân nghĩa”. Trong sự thăng trầm, biến đổi của xã hội, chỉ có lòng nhân nghĩa mới là cái trường tồn đích thực.

Theo lưu truyền, chúa Nguyễn nghe danh tài đức của Võ Trường Toản, đã mời cụ ra tham chính, song chỉ nhận được lời khước từ có lý, có tình. Đền ơn tri ngộ, cụ trình lên Chúa Nguyễn 10 điều hữu hiệu trong việc bình định xứ sở. Cụ được chúa Nguyễn trọng đãi, thường mời tới tham dự cùng bàn luận kinh điển và việc nước. Chính cụ đã  tiến cử các môn đệ tài ba giúp Chúa Nguyễn xây dựng sự nghiệp vương triều mới ở phía Nam đất nước.

Võ Trường Toản mất ngày mùng 9 tháng 6 năm Nhâm Tý (nhằm ngày 27-7-1792),  mộ chôn tại thôn Hoà Hưng, (Bình Dương). Chúa Nguyễn Ánh cảm thương ban tặng cụ hiệu “Gia Định xử sĩ sùng đức Võ tiên sinh” (bậc xử sĩ họ Võ, người Gia Định sùng về đức độ) khắc vào bia mộ tại Bình Dương - Gia Định cũng cho đối:

Triều hữu huân danh, bán thuộc Hà Phần cựu học

Đẩu Nam phong giáo, tề khâm Nhạc Lộc dư uy”

(Dịch nghĩa là: Triều đình huân danh, phân nửa thuộc học thuật cũ Hà Phần

                        Trời Nam phong giáo toàn bộ nhờ danh tiếng thừa Nhạc Lộc)           

Để tưởng nhớ công đức của cụ, đông đảo học trò, quan chức đã tặng cụ đôi liễn:

“Sinh tiền giáo huấn đắc nhân, vô tử nhi hữu tử

Một hậu thinh danh tại thế, tuy vong giả bất vong”

(Dịch nghĩa: Lúc sống dạy dỗ được người, không con cũng như có.

                     Chết, tiếng tăm còn để, mất mà chẳng mất)

          Để tưởng nhớ công đức của một danh sĩ, năm 1855, vua Tự Đức cho lập miễu thờ cụ Võ tại làng Hòa Hưng (Bình Dương) và mỗi năm đều tổ chức cúng tế.

Khi thực dân Pháp đánh chiếm ba tỉnh miền Đông Nam kỳ, các nhà nho yêu nước Nguyễn Thông, Phan Thanh Giản,… xin lệnh vua Tự Đức di dời mộ Võ Trường Toản cùng với vợ và con về an táng tại thôn Bảo Thạnh, huyện Bảo An vì không muốn để mộ thầy nằm trong vùng bị giặc chiếm. Việc di dời tiến hành vào ngày 28 tháng 3 năm Đinh Mão (1867), do Nguyễn Thông đứng làm chủ tang. Mộ cụ nằm trên một gò đất cao, hướng Đông Bắc ngó về Tây Nam, trông ra một vùng cây cối, cảnh trí khá đẹp, nay thuộc xã Bảo Thạnh, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Khi an táng xong, Phan Thanh Giản xin vua Tự Đức cho 5 người dân lo việc giữ gìn phần mộ đồng thời lập bài vị cụ để thờ ở Tụy Văn Lâu (Văn Thánh Miếu ở Vĩnh Long). Phan Thanh Giản đã soạn một bài văn bia khắc tại mộ phần của cụ để lưu dấu mai sau.

Hiện nay, khu mộ cụ Võ Trường Toản chung quanh được rào bằng tường để bảo vệ, bên trong có trồng một số cây cao rợp bóng mát, nền mộ cao hơn mặt đất, được bao cuốn bởi một viền gạch tô xi măng chắc chắn. Trên nền có 3 ngôi mộ bằng xi măng xây theo kiểu dáng voi phục. Đứng giáp mặt đầu mộ mà nhìn thì mộ ông bà Võ Trường Toản nằm song song ngang hàng kề bên nhau (ông bên trái bà bên phải). Mộ người con gái nằm riêng bên phải cách mộ bà chừng vài mét. Trước đầu mỗi ngôi mộ đều có một tấm mộ bia bằng đá xanh (đá hoa cương) khắc âm chữ Hán. Mộ bia cụ ông hàng ngang trên hết ghi hai chữ: “Sắc Tứ”, kế ghi theo hàng dọc mấy chữ: “Gia Định Xử Sĩ Sùng Đức Võ Tiên Sinh chi mộ”. Mộ cụ bà khắc theo hàng dọc: “Đức phối thục thận nhụ nhân chi mộ”. Mộ bia người con gái cũng khắc theo hàng dọc: “Tòng táng lịnh ái chi mộ”.

Lãnh đạo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch cùng lãnh đạo huyện Ba Tri thắp hương trước mộ cụ Võ Trường Toản nhân ngày giỗ

Tấm bi chí kích thước (1,2 x 0,8m x 0,2m) do cụ Phan Thanh Giản soạn nằm phía trước cách mộ ông chừng 5 mét, chữ đục lõm (khắc âm) rõ và vẫn còn nguyên vẹn.

Trước mặt nền mộ, về phía trái 10 mét hiện đang lập một đền thờ, trong đền có một bàn thờ và một tượng đồng do Trường  Võ Trường Toản thành phố Hồ Chí Minh tặng.

Ngôi mộ và đền thờ đã qua 2 lần trùng tu, tôn tạo. Lần thứ nhất vào năm 1995, lần thứ hai vào năm 1997 bằng kinh phí của địa phương cùng sự hỗ trợ của Trường Võ Trường Toản ở quận 1, thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 24 tháng 1 năm 1998, di tích khu mộ và đền thờ cụ Võ Trường Toản được Bộ Văn Hoá - Thông tin ra quyết định công nhận là di tích lịch sử- văn hoá cấp quốc gia.

  Giải thưởng Võ Trường Toản được lập ra nhằm tôn vinh những nhà giáo đã có nhiều cống hiến trong sự nghiệp “Trăm năm trồng người”. Giải thưởng được trao tặng hàng năm vào dịp mừng ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11 từ năm 1998 .

Cụ Võ Trường Toản xứng đáng là một người thầy của những thế hệ người thầy. Cụ không ra làm quan nên không có sự nghiệp chính trị, nhưng với những danh hiệu  Vạn thế sư biểu, Kẻ sĩ Gia Định, Sùng đức xử sĩ... là những mỹ từ mà người dân Nam bộ dành tặng cho cụ, đủ để nói lên lòng ngưỡng mộ, niềm tự hào về một người thầy đã làm rạng danh cho đất nước này./.

Nguyễn Thị Thanh Hương

 

 

25/09/2012 12:00 SAĐã ban hànhDi tích lịch sử văn hóa1424No
NHÀ CỦA ÔNG NGUYỄN VĂN TRÁCNHÀ CỦA ÔNG NGUYỄN VĂN TRÁC

 

          Nhà của ông Nguyễn Văn Trác, nơi ở và làm việc của đồng chí Lê Duẩn từ  tháng 11/1955 đến  tháng 3/1956 tại ấp 8, xã Hiệp Hưng (Hưng Lễ ngày nay), huyện Giồng Trôm tỉnh Bến Tre; cách UBND xã Hưng Lễ 800 m. Ngày 7/5/1997, Bộ Văn Hóa Thông tin ra quyết định công nhận là Di tích Lịch sử văn hóa cấp Quốc gia.

Đồng chí Lê Duẩn  là Tổng Bí thư  Đảng cộng sản Việt Nam (1976 -1986). Ông sinh ngày 7 tháng 04 năm 1907 tại làng Hậu Kiên, xã Triệu Thành, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Ông tham gia  cách mạng năm 1928, được kết nạp vào Đảng Cộng Sản Đông Dương năm 1930 và sớm trở thành người chiến sĩ cận vệ đầu tiên của Đảng. Ông là  một người học trò lỗi lạc của Chủ Tịch Hồ Chí Minh, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc, cho tự do, hạnh phúc của nhân dân và cho lý tưởng cộng sản chủ nghĩa. Cuộc đời hoạt động của đồng chí Lê Duẩn gắn liền với quá trình đấu tranh cách mạng của nước ta.

          Đầu năm 1955, Mỹ- Diệm trắng trợn phá hoại Hiệp định Giơ-ne-vơ, cách mạng miền Nam lúc bấy giờ ở trong tình thế dầu sôi, lửa bỏng.  Với cương vị là Bí thư  Xứ  ủy, Bí thư  trung ương Cục miền Nam, đồng chí Lê Duẩn đã đi  tìm hiểu tình hình cách mạng ở một số tỉnh miền Nam trong đó có Bến Tre. Ở Bến Tre,  đồng chí đã đi  nhiều nơi ở cù lao Minh, và cù lao Bảo.  Có lúc giả dạng người bị câm điếc, có lúc giả làm  thường dân đi câu cá trên sông liên tục nhiều ngày liền để tránh địch càn quét bắt bớ. Trong thời gian ở Bến Tre, nhà ông Nguyễn Văn Trác ( ấp 8, xã Hưng Lễ, huyện Giồng Trôm)  là nơi mà đ/c Lê Duẩn ở và làm việc lâu nhất từ tháng 11 năm 1955 đến tháng 3 năm 1956. 

Xã Hưng Lễ nằm trong  địa bàn xã giải phóng,  binh tề vận  đều có cơ  sở nội tuyến của ta. Ông  Nguyễn Văn  Trác thuộc thành phần  trung nông, là bí thư chi bộ Đảng  bí mật, lại  có 2 con trai là Đoàn viên thanh lao, con rể là chi ủy viên nên địch không nghi ngờ. 

Ngôi nhà  Ông Mười Trác có diện tích 96,25m2 nằm trong vườn dừa thuận tiện cho việc thoát thân khi gặp nguy hiểm.  Đây là  một căn nhà  bằng gỗ cất  theo kiểu nhà trính, 3 gian 2 chái với  mái ngói, nền gạch tàu, vách gỗ, cột gỗ.  Nhà  có  42 cây cột bằng gõ và thao lao. Cột lớn nhất cao 6m, đường kính 0,25m. Kèo làm kiểu  kèo vỏ đậu, đuôi chạm hạc.  Nhà được bố trí giống như nhiều nhà  khá giả ở vùng nông thôn Nam bộ,  nội thất  được trang trí  với các bao lam, thành vọng, liễn áp cột sơn son thiếp vàng.  Ba gian chính, vách đóng liền 3 mặt. Phía trước là nơi thờ cúng, gian giữa đặt tủ thờ cẩn ốc, hai bên là hai bàn thờ tổ tiên, ông bà. Trong ngôi nhà nầy, gia đình đã làm một  căn  buồng  kín đáo dành cho  đ/c Lê Duẩn. Hằng ngày đ/c làm việc, ăn ở ngay  trong căn  buồng  trên chiếc giường, bên cạnh là chiếc tủ mà bên trong bố trí thông với một hầm bí mật,  làm bằng thùng phuy chôn sâu dưới đất.  Một số cán bộ   được giao nhiệm vụ bảo vệ ở vòng ngoài, còn bên trong do  vợ chồng ông Mười Trác và  các con đảm nhiệm. Gia đình ông Mười   đã bảo vệ  an toàn cho đ/c Lê Duẩn suốt thời gian ở tại đây.

Trong thời gian làm việc ở Bến Tre, ngoài việc soạn thảo Đề cương cách mạng miền Nam, đồng chí lê Duẩn còn  triển khai nhiều cuộc họp, trong đó có hai cuộc họp quan trọng:

          - Cuộc họp thứ nhất  tại Giồng Xoài,  xã Tân Hào ( Giồng Trôm), có các lãnh đạo của Khu ủy miền Tây, miền Trung và thành phố Sài Gòn dự.

          - Cuộc họp  thứ  hai tại Giồng Tre Quạ, xã Tân Hào ( GiồngTrôm), có  đại biểu của các Tỉnh  ủy phía Nam và Khu ủy. Cuộc họp được tiến hành khẩn trương và gấp rút trong 2 ngày.

 Chính từ những tháng năm  lăn lộn cùng đồng chí, đồng bào  trong phong trào cách mạng ở các tỉnh miền Nam, đ/c Lê Duẩn  đã hoàn thành cuốn  “Đề cương cách mạng miền Nam” vào  tháng 8 năm 1956, khẳng định “…nhn dn ta ở miền Nam chỉ có một con đường là vùng lên chống lại Mỹ – Diệm để cứu nước và tự cứu mình. Đó là con đường cách mạng. Ngoài con đường đó, không có con đường nào khác1.

 Sau ngày miền Nam giải phóng, đất nước thống nhất,  đ/c Lê Duẩn về Bến Tre  viếng thăm những nơi  trước đây  đ/c đã từng ở và hoạt động.  Đồng chí đến thăm gia đình ông Mười Trác.  Ngôi nhà cũ  của ông Mười,  nơi đ/c từng ở,   theo thời gian đã bị hư hỏng hoàn toàn do mưa nắng và chiến tranh. Để đền đáp   phần nào ân nghĩa  gia đình ông Mười Trác – những người   đã hết lòng giúp đỡ  đ/c  trong thời gian ở hoạt động, đ/c Lê Duẩn đã  xây tặng  cho gia đình ông Mười ngôi  nhà mới.  Đó là  ngôi  nhà  tường 3 căn, mái ngói nền lót gạch bông, được xây trên nền nhà  cũ.  Tuy nhiên, gia đình ông Mười  không sử dụng căn này để ở mà xây ngôi nhà khác kế bên. Sau khi được xếp hạng là di tích  Lịch sử  văn hóa cấp quốc gia,  gia  đình đã đồng ý để Bảo Tàng Bến Tre  sử dụng ngôi nhà làm  nơi trưng bày, giới thiệu  về cố Tổng Bí thư  Lê Duẩn, đặc biệt là  giai  đoạn đ/c về hoạt động ở  tỉnh Bến Tre.

  Để nâng cao  tầm vóc, xứng đáng là một di tích cấp quốc gia  và phát huy hơn nữa   giá trị lịch sử của di tích trong công tác giáo dục truyền thống, hiện nay  ngôi nhà trưng bày cũ đã được thay thế bằng ngôi nhà mới khang trang. Kiểu dáng vẫn như ngôi nhà cũ,  sân  trước nhà, lối vào di tích  được mở rộng và tráng xi măng rất thuận tiện cho khách dến viếng di tích .

Nằm cạnh con đường tráng  xi măng - trục lộ chính của xã, di tích nằm trong khu vườn dừa xanh quả, chung quanh  có  nhiều loại cây ăn trái với sân vườn rộng rãi. Đây  là   địa điểm  tổ chức  mừng  sinh nhật cố Tổng bí thư Lê Duẩn  hàng năm  và tụ điểm của các sinh hoạt truyền thống ở địa phương. /.

1 Trích trong “Đề cương cách mạng miền Nam” của đ/c Lê Duẩn

Phạm Thị Lan

25/09/2012 12:00 SAĐã ban hànhDi tích lịch sử văn hóa626No
DI TÍCH ĐỒNG KHỞIDI TÍCH ĐỒNG KHỞI

         

          Đồng khởi ở Bến Tre đã đi vào lịch sử đấu tranh hào hùng của dân tộc, của quê hương, là niềm tự hào về sự lãnh đạo tài tình và sáng suốt của Đảng ta, về truyền thống chiến đấu kiên cường, bất khuất, dũng cảm, mưu trí, sáng tạo của quân, dân ta chống lại chiến tranh xâm lược của Mỹ - ngụy.

          Đồng khởi là bước nhảy vọt quan trọng của cách mạng miền Nam nói chung và phong trào cách mạng  Bến Tre nói riêng, chuyển cách mạng miền Nam từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công, chủ động tấn công quân thù bằng ba mũi giáp công chính trị, quân sự và binh vận để đánh mạnh, đánh liên tục vào đồn bót địch, làm tan rã từng mảng chính quyền của địch ở nông thôn, phong trào Đồng Khởi ở Bến Tre đã nhanh chóng lan rộng ra các tỉnh Nam bộ, khiến cho quân địch hoang mang. Do vậy, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam  Vieđã khẳng định: “Trong cao trào của Đồng Khởi ở đồng bằng sông Cửu Long được nhen lên từ Bến Tre, nhân dân miền Nam Việt Nam đã tìm ra cái pháp bảo đấu tranh hai chân ba mũi”

          *Diễn biến trong phong trào Đồng Khởi ở Bến Tre:

          Sau khi đồng chí Nguyễn Thị Định dự Hội nghị đại biểu các tỉnh để nghe phổ biến tinh thần nghị quyết 15 của Trung ương Đảng. Về Bến Tre vào đêm 2/01/1960 tại (xã Minh Đức, huyện Mỏ Cày), đồng chí chủ trì hội nghị truyền đạt tinh thần nghị quyết 15 của Trung ương Đảng. Hội nghị đã phân tích kỹ mặt khó khăn và thuận lợi của ta, đánh giá tình hình giữa địch và ta, hoàn toàn tin tưởng ở tinh thần và khả năng cách mạng của quần chúng. Trên cơ sở đó, Hội nghị đi đến một quyết định hết sức táo bạo: phát động tuần lễ toàn dân nổi dậy, diệt ác, phá thế kìm kẹp, giải phóng nông thôn, làm chủ ruộng vườn.

          Để đảm bảo cho nổi dậy thắng lợi, việc chuẩn bị lực lượng là hết sức quan trọng. Hội nghị giành nhiều thời gian bàn bạc tỉ mỉ, cụ thể và đi đến quyết định:

          Trước hết phải lập ngay những tổ hành động làm nòng cốt cho việc trừ gian, diệt ác.

          Thứ hai, tập hợp thanh niên thành từng tổ có trang bị mã tấu, dao găm, súng cây, súng bập dừa đủ loại, lấy danh nghĩa tiểu đoàn 502 để hoạt động.

          Thứ ba, xây dựng gấp một lực lượng nòng cốt, công khai, hợp pháp để đi phát động quần chúng.

          Thứ tư, rà soát lại cơ sở nội tuyến, chuẩn bị bắt mối với gia đình binh lính để khi nổi dậy thì vận động họ kêu gọi chồng, con trở về với cách mạng.

          Sau khi chuẩn bị kế hoạch tỉ mỉ, tỉnh ủy Bến Tre và ban lãnh đạo nổi dậy đã chọn 3 xã Định thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh là 3 xã trọng điểm xuất phát cho phong trào Đồng Khởi ở Bến Tre, vì 3 xã này trong nhiều năm liền có phong trào đấu tranh mạnh nhất của huyện Mỏ Cày, có đội quân chính trị vững vàng, quần chúng được tôi luyện, thử thách qua các phong trào cách mạng ở địa phương. Đặc biệt, xã Định Thủy là lá cờ đầu tiêu biểu cho phong trào Đồng Khởi ở Bến Tre (có di tích được công nhận là di tích Đồng Khởi cấp quốc gia).

          Xã Định Thủy nằm sát huyện Mỏ Cày, cách thị trấn Mỏ Cày 3 Km, cách tỉnh Bến Tre khoảng 15Km, số quần chúng tốt chiếm trên 65%, có nhiều cơ sở nội tuyến, có các đội chống càn hoạt động rất có hiệu quả.

          Được chọn làm xã tiêu biểu cho phong trào  nổi dậy Đồng Khởi, ngày 11/01/1960, đồng chí Ba Cầu, huyện ủy viên huyện Mỏ Cày thay mặt huyện ủy xuống xã Định Thủy (địa điểm tại nhà ông Huỳnh Văn Định) triệu tập hội nghị cấp ủy xã để truyền đạt lại tinh thần chủ trương Nghị quyết 15 của Trung ương Đảng và nghị quyết của tỉnh ủy về Đồng Khởi, đề ra kế hoạch, mục tiêu, phương hướng, khẩu hiệu và hành động chuẩn bị Đồng Khởi.

          Sau khi phân tích mặt mạnh, mặt yếu của xã Định Thủy, Hội nghị quyết định phát động một đợt nổi dậy rầm rộ, kết hợp giữa lực lượng quần chúng bên ngoài và lực lượng nội tuyến bên trong để diệt ác ôn, phá thế kìm kẹp, giải tán tề ấp, tề xã, giành chính quyền về tay nhân dân. Hội nghị quyết định khẩn trương thành lập tổ hành động được trang bị bằng mã tấu, dao găm và một khẩu súng trường, mốc nối 6 cơ sở nội tuyến để hỗ trợ cho tổ hành động. Hội nghị hạ quyết tâm phải diệt cho bằng được tổng đoàn dân vệ do đội Tý chỉ huy.

          Đúng 8 giờ sáng ngày 17 /01/1960, đồng chí Lê Bình An (Hai On), bí thư chi bộ xã Định Thủy chia lực lượng ra làm 2 bộ phận hành động, một bộ phận chịu trách nhiệm diệt tổng đoàn dân vệ đóng ở đình Định Nhơn (Đình rắn) do tên đội Tý cầm đầu, một bộ phận chịu trách nhiệm tấn công tiêu diệt đồn Vàm Nước Trong (bọn tề xã). Được quần chúng báo tin, tên đội Tý cùng tên lính cận vệ là Năm Vị (cảm tình của ta) mang khẩu tiểu liên ra chợ Định Thủy uống nước trà ở quán Năm Thiểu. Bộ phận chịu trách nhiệm diệt Tổng đoàn dân vệ do đội Tý chỉ huy chia làm 2 tổ hành động ngay.

          -Tổ 1: do đồng chí Bảy Thống dẫn đầu và các đồng chí Chín Chiêm, Chín Định (các đồng chí này hoạt động hợp pháp).

          -Tổ 2: do đồng chí Ba Giai dẫn đầu và đồng chí Tám Dũng, Ba Kĩnh.

          Hai tổ hành động cải trang đi tảo mộ, khi tổ 1 đến ngã tư chợ Định Thủy, thấy tên đội Tý đang uống nước trà tại quán Năm Thiểu, các đồng chí liền vào quán uống trà thì tổ 2 cũng vừa đi đến. Đồng chí  Chín Chiêm thấy 2 tổ hành động đã có mặt đầy đủ, sợ đội Tý tình nghi, anh bước ra ngoài.

          Ông Năm Thiểu (chủ quán) có vẽ sợ sệt vì biết mặt một số đồng chí hoạt động bất hợp pháp, ông hỏi Ba Giai đi đâu? Ba Giai trả lời đi quét mộ, cảm thấy rêm trong mình quá, ghé qua quán anh mua thuốc uống, nói xong, Ba Giai đi thẳng vào bên trong kệ thuốc, anh lấy dao con chó giương lưỡi lên, thừa lúc đội Tý không chú ý, anh bước nhanh ra choàng cổ quật ngã hắn, Bảy Thống, Chín Định nhảy vào hỗ trợ, tên cận vệ bỏ chạy ra ngoài, Ba Giai, Chín Định tước vũ khí đội Tý gồm: 01 lựu đạn bình vôi, 01 trái khói, ở bên ngoài đồng chí Chín Chiêm tước súng tên cận vệ.

          Kế hoạch của ta là bắt sống tên đội Tý để dùng hắn gọi hàng bọn tổng đoàn dân vệ đóng ở đình Định Nhơn, nhưng hắn vùng vẫy quá, không trói được hắn, nên đồng chí Chín Chiêm bắn phát súng vào đầu đội Tý kết liễu cuộc đời của hắn.

          Phát súng bắn vào đầu tên đội Tý- chỉ huy tổng đoàn dân vệ tại quán Năm Thiểu là phát súng đầu tiên mở màn cuộc Đồng Khởi ngày 17/01/1960 ở tỉnh Bến Tre.

          Sau khi diệt xong tên đội Tý, lực lượng ta do đồng chí Bảy Thống dẫn đầu tổ hành động 10 người, lực lượng hỗ trợ 20 người và cơ sở nội tuyến 6 người chia làm 3 mũi bao vây tổng đoàn dân vệ ở đình Định Nhơn. Mũi thứ nhất do đồng chí Bảy Thống dẫn đầu gồm có 14 lực lượng trang bị mã tấu, súng giả từ ấp Thạnh Hưng tiến vào, mũi thứ 2 do Ba Giai dẫn đầu cùng 14 lực lượng từ ấp Định Nhơn kéo xuống, mũi thứ 3 công khai do đồng chí Lê Bình An, Tám Bình và cơ sở nội tuyến là cảnh sát Huề, dân vệ Tư Thậm (Phan Định) áp sát vào đình Định Nhơn phóng loa kêu gọi bọn lính đầu hàng, bọn chúng hết sức hoang mang, như rắn mất đầu, tổ hành động nhất loạt xung phong chiếm Tổng đoàn dân vệ, 3 tên bỏ chạy, 4 tên đầu hàng, ta thu 6 súng, 3 lựu đạn, 500 viên đạn, Tổng đoàn dân vệ ở đình Định Nhơn bị ta tiêu diệt lúc 9 giờ sáng ngày 17/01/1960.

          Cũng thời gian này, bộ phận chịu trách nhiệm đánh chiếm đồn Vàm Nước Trong, cùng với quần chúng biểu tình, kết hợp với binh lính yêu nước và cơ sở nội tuyến đã nổi dậy đánh chiếm đồn Vàm Nước Trong, bọn tề ngụy và binh lính trong đồn tan rã, ta chiếm gọn đồn Vàm Nước Trong thu được 15 súng, 10 lựu đạn và 1000 viên đạn, giải tán bọn tề ngụy xã Định Thủy.

          Trước khí thế thắng lợi của phong trào Đồng Khởi, tối ngày 17/01/1960 tại chợ xã Định Thủy, lực lượng quần chúng nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng đã tổ chức một cuộc mít tinh nhằm chào mừng thắng lợi, biểu dương lực lượng và ngăn chặn sự chống đối của địch, báo cáo thành quả đạt được trong phong trào Đồng Khởi, phát huy khí thế chiến thắng tiếp tục trừ gian, diệt ác, phá kềm.

Trước ngọn cờ Đồng Khởi (lá cờ đỏ sao xanh) có hàng ngàn người tham dự, tất cả đều giơ tay cao hô vang khẩu hiệu “ủng hộ cách mạng, ủng hộ phong trào”. Cuộc mít tinh kéo dài 3 giờ liền với tinh thần phấn khởi, lạc quan và tin tưởng vào sự thắng lợi của phong trào cách mạng của quần chúng nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng.

 Với phong trào Đồng Khởi, Đảng bộ và nhân dân Bến Tre đã được tuyên dương với tám chữ vàng “Anh dũng Đồng Khởi, thắng Mỹ diệt nguỵ

Để ghi lại chiến công oanh liệt của quân dân ta trong phong trào Đồng Khởi ngày 17/01/1960, năm 1998, UBND tỉnh ra quyết định qui hoạch xây dựng Nhà truyền thống Đồng Khởi trong một khuôn viên có diện tích 4.684m2. Ngày 17/01/2000, khánh thành đưa vào sử dụng. Ngôi nhà được xây dựng kiến trúc thể khối, chiều cao 24 mét, dài 24,5 mét, rộng 24 mét trên nóc nhà xây dựng biểu tượng ngọn đuốc đồng khởi cao 12 mét, đường kính 4,5 mét, có 3 cánh thể hiện sự tấn công địch bằng 3 mũi giáp công của quân dân ta và sự nổi dậy của nhân dân 3 dãy cù lao, tượng trưng ngọn lửa Đồng Khởi cháy mãi trong lòng nhân dân. Trước cổng Nhà truyền thống, phía bên phải có xây bia chiến thắng, chất liệu bằng đá, phía trái có nhà khách, trong khuôn viên trang trí hoa kiểng xanh, sạch đẹp rất khoáng đạt. Hằng năm, Bến Tre lấy ngày 17/1 làm ngày lễ hội truyền thống lịch sư, tổ chức mít tinh  và các hoạt động vui chơi để thu hút du khách đến tham quan trong những ngày diễn ra lễ hội.

Năm 2005, Sở Văn hoá-Thông tin Bến Tre cho phục chế lại ngôi Đình Rắn,  chiều ngang 11 mét, chiều dài 25 mét trong một khuôn viên trên 1000 m2. Ngôi đình được xây  theo kiểu chữ nhất 2 gian: gian võ ca, gian chính diện. Đình xây 3 căn 2 chái, thờ Hùng Vương Thành hoàng bổn cảnh.

Đồn Vàm Nước Trong nằm ở cạnh sông Hàm Luông và địa điểm quán ông Năm Thiểu trước đây có xây dựng bia chiến thắng, hiện nay gom lại thành cụm di tích Nhà truyền thống Đồng Khởi./   

Nguyễn Văn Hùng

25/09/2012 12:00 SAĐã ban hànhDi tích lịch sử văn hóa780No
MỘ VÀ ĐỀN THỜ LÃNH BINH NGUYỄN NGỌC THĂNGMỘ VÀ ĐỀN THỜ LÃNH BINH NGUYỄN NGỌC THĂNG

          Mộ và Đền thờ Lãnh binh Nguyễn Ngọc Thăng tọa lạc tại ấp Căn Cứ, xã Mỹ Thạnh, huyện Giồng Trôm, cách thị xã Bến Tre 6,5km, về hướng Đông, trên tỉnh lộ 885. Nơi đây đã được Bộ Văn Hóa thông tin ký quyết định công nhận là Di tích Lịch sử - Văn hóa cấp quốc gia vào ngày 07 tháng 5 năm 1997.

          Lãnh binh Nguyễn Ngọc Thăng, sinh năm 1798, tại thôn Lương Thạnh, huyện Bảo Hựu, trấn Vĩnh Thanh (nay là xã Mỹ Thạnh, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre). Ông xuất thân trong một gia đình  nông dân,  cha tên Nguyễn Công, mẹ là Trần Thị Kiêm. Ông là người thông minh, giỏi về văn chương và võ nghệ, có công trong  việc khai khẩn đất đai, quy dân lập ấp mở mang vùng Bảo Hựu, huyện Bảo An, tỉnh Vĩnh Long. Ông đăng lính dưới triều  vua Thiệu Trị, được thăng Cai cơ và đến năm  1848 (Tự Đức nguyên niên) ông được thăng chức Lãnh binh.   

          Khi thực dân Pháp đánh thành Gia Định, ông đưa quân  địa phương về để  cứu viện nhưng  chưa đến nơi thì  thành Gia Định đã bị chiếm ( 17.2.1859).  Ông được lệnh đóng giữ đồn Cây Mai, tổ chức lại phòng thủ, chặn đứng nhiều cuộc tấn công của địch nhưng rồi đồn Cây Mai cũng thất thủ trước sức mạnh của quân xâm lược Pháp.   Tện tuổi và cuộc đời chiến đấu chống thực dân   Pháp xâm lược của Nguyễn Ngọc Thăng gắn liền với địa danh đồn Cây Mai và chiến thuật “mù u”. Ông cho binh lính nhặt trái mù u đem rãi trên đường lính Pháp hành quân, bọn lính dẫm phải trái mù u  trợt té, bị nghĩa quân phục kích hai bên đường xông ra chém chết. 

Trước sức mạnh của địch, các vùng đất Gia Định, Định Tường lần lượt  lượt rơi vào tay quân Pháp. Ông rút quân về vùng  Tân Hòa (Gò Công) hợp vơi nghĩa quân Trương Định  tiếp tục  lãnh đạo nghĩa quân chống Pháp.  Ông hy sinh trong một trận giao chiến với Pháp ngày 27.6.1866 ( ngày rằm tháng 5 năm Bính Tuất).  Thi hài ông được đưa về  quàn tại đình làng Lương Thạnh, huyện Bảo Hựu, tỉnh Vĩnh Long gần một tháng để nhân dân trong vùng đến viếng rồi sau đó đưa đi an táng tại  một con giồng nhỏ thuộc làng Mỹ Thạnh, cách chợ Mỹ Lồng khoảng 0,6km. 

Lãnh binh Nguyễn Ngọc Thăng, là người đầu tiên của Bến Tre tham gia lãnh đạo quân dân chống thực dân Pháp xâm lược  . Ông đã  nêu cao tinh thần bất khuất, kiên cường, dũng cảm trong  các trận chiến đấu xáp lá cà với giặc bằng những vũ khí thô sơ.   Mặc dù ông được người dân  tôn kính  và ngưỡng mộ nhưng dưới thời Pháp thuộc, việc thờ cúng và giữ gìn phần mộ một vị anh hùng dân tộc  chống Pháp như Nguyễn Ngọc Thăng là một việc làm  bị thực dân Pháp nghiêm cấm  nên  người dân phải làm thêm những mộ giả xung quanh để Pháp không phát hiện  và  chỉ  dám thờ cúng ông  tại một ngôi miễu nhỏ trong làng. Đến năm 1968, cháu nội của ông là Nguyễn Ngọc Giang mới lập bia chí.  Năm 1973, bài vị ông được thờ cúng tại chùa Hòa Đồng Tôn giáo thuộc xã Mỹ Thạnh, huyện Giồng Trôm

           Ngày 15 tháng 5 (âl)  năm 1984, nhân dân Bến Tre đưa di ảnh và bài vị của ông từ chùa về thờ tại đình  làng  Mỹ Thạnh, huyện Giồng Trôm như một vị thần. Từ đó, đình Mỹ Thạnh được đổi tên thành Đền thờ Lãnh binh Nguyễn Ngọc Thăng.

 Ngôi đền  nằm trên khu đất giồng  cao ráo  rộng 326m2, trong đó diện tích xây dựng là 182,50m2 có hàng rào chung quanh.  Trước  cổng đình    là tấm biển ”Đền thờ lãnh binh Nguyễn Ngọc Thăng”.  Đền được xây dựng theo lối kiến trúc đình làng Nam bộ với   tường  gạch,  mái  lợp ngói âm dương, trên nóc mái và đầu hồi có hoa văn trang trí. Đền thờ có  hai gian: gian chính và gian phụ. Nội thất đền thờ có trang trí ba hương án; hương án chính đặt  bài vị và di ảnh Lãnh binh Nguyễn Ngọc Thăng; tả ban, hữu ban thờ tiền hiền,  hậu hiền và cùng nhiều vật dụng thờ cúng khác có giá trị lịch sử văn hóa như khánh thờ, áo, mão, hoành phi, liễn đối, lư hương, chân  đèn, chiêng, trống…

 Phía trước cổng đền hiện nay là một đền thờ  ghi danh 344  anh hùng liệt sĩ của xã. Phối hợp giữa kiến trúc cổ và hiện đại, hai đền thờ đã hòa quyện vào nhau thành quần thể thống nhất, tôn vinh những  người con của vùng đất Bến Tre  vị quốc vong thân, tạo thêm  nét đẹp cho  nơi thờ tự.

Ở Gia Định,  sau khi ông mất, để tưởng nhớ công lao của  ông, nhân dân tôn ông thành thần và  thờ  trong đình làng Nhơn Hòa (nay thuộc phường Cầu Ông Lãnh, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh) vơi danh hiệu “Định Tường Nguyễn Ngọc Thăng chi thần” và tổ chức cúng tế hàng năm  cho đến ngày nay.

          Lãnh binh Nguyễn Ngọc Thăng là một nhân vật lịch sử đã đi vào sử sách, đi vào huyền thọai trong nhân dân. Tên tuổi của ông  gắn liền với tên cầu, đường, trường học và những công trình văn hóa tiêu biểu trên quê hương Bến Tre và thành phố Hồ Chí Minh. Đối với đất nước, ông là người có công giữ nước. Đối với quê hương, ông là vị tiền hiền có công mở đất, lập làng. Đối với dòng họ, ông  là thành danh của họ Nguyễn Ngọc….

Để tri ân công lao đóng góp của vị anh hùng dân tộc Lãnh binh  Nguyễn Ngọc Thăng, đầu năm 1998, Bộ VHTT và tỉnh Bến Tre đầu tư : 224.685.625 đồng để trùng tu và chống xuống cấp  khu di tích. Khu mộ được  làm rộng  ra và nâng cao, nền bằng xi măng. Phần mộ được dán gạch men màu xanh lam.  Hoa kiểng được  trồng quanh  những lối đi  trong khu mộ. Hàng năm,  cứ vào ngày rằm tháng 05 (âl), lãnh đạo chính quyền địa phương cùng nhân dân và gia đình tổ chức  trọng thể lễ dâng hương tưởng niệm Lãnh binh Nguyễn Ngọc Thăng, cũng là dịp để nhân dân Bến Tre tỏ lòng tri ân bậc tiền hiền có công dựng làng, giữ nước. Đây  là những sinh họat văn hóa truyền thống cần được bảo tồn, để giáo dục các thế hệ trẻ hôm  nay và mai sau  ý thức về cội nguồn của dân tộc./

Phạm Thị Lan

 

 

25/09/2012 12:00 SAĐã ban hànhDi tích lịch sử văn hóa840No
NHÀ cổ Đại ĐiềnNHÀ cổ Đại Điền

            Nhà cổ  Đại Điền hay còn gọi là nhà  cổ Hương Liêm, nằm ở xã Đại Điền, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre. Đây là  một kiến trúc nhà cổ đẹp  thuộc dạng hiếm  hoi  hiện còn của tỉnh Bến Tre. Hương Liêm tên thật là Huỳnh Ngọc Khiêm (1843 – 1927) là một  trong những người giàu vào bậc nhất,  nổi tiếng ở vùng cù lao Minh  và  tỉnh Bến Tre  lúc bấy giờ. Ông là tri huyện hàm, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.  Hương Liêm là  cách gọi theo tên thường dùng cùng với chức sắc trong làng bấy giờ của ông.

             Ngôi nhà do ông Khiêm xây dựng từ  những năm  cuối thập niên 80 của thế kỷ 19 đến  đầu  thế kỷ 20. Những câu chuyện kể lại  rằng:  Các  người thợ lúc  kéo gỗ khởi công làm nhà ăn bưởi và ném  hột  quanh nhà,  khi hột bưởi nẩy mầm  thành cây lớn lên cho trái chín, ngôi nhà vẫn chưa xong ( một cây bưởi trồng từ hột phải mất 6 –7 năm mới cho trái).  Các thợ làm nhà   từ  lúc  còn bé cho đến khi  lớn lên được ông đứng ra    lo việc vợ con,  nhà vẫn chưa hoàn thành. Theo lời kể,  phải trên 10 năm mới xây dựng xong ngôi nhà. Thợ làm nhà là những người thợ ở miền ngoài vào, có thể là thợ miền Trung hoặc miền Bắc, nơi vốn nổi tiếng với   nghề chạm khắc gỗ từ lâu đời. 

            Nằm  trên khoảng đất rộng, cao  ráo, chung quanh trồng cây ăn trái, ngôi nhà có diện tích trên 500m2,  được cất theo kiểu nhà xuyên trính, ba gian hai chái  ba  (hay còn gọi là nhà tám đấm tám khuyết).   Nền  nhà cao gần 1m, kè đá xanh, bên trong  lót gạch tàu  xen với gạch bông. Sườn nhà bằng gỗ, mái lợp ngói âm dương, bên dưới là lớp ngói thí có hoa văn màu rất đẹp  (hiện nay chỉ còn lại rất ít). Tường vôi bao bọc xung quanh với  nhiều cửa sổ và khuôn bông thông gió,  bốn phía đều có cửa ra vào. Mặt chính ngôi nhà quay về hướng Đông là con đường chính của xã.

            Nhà có 80 cây cột trong đó 48 cây cột bằng gỗ lim và 32 cột gạch (hàng cột thứ tư). Cột cái to, cao trên 5 mét. Kèo là những thanh gỗ to đẻo cong gọi là kèo vỏ đậu. Kèo làm từng đoạn nối chồng lên nhau ở mỗi đầu cột, thân kèo được chạy chỉ viền và  chạm nổi hoa văn; đầu kèo chạm hình rồng; thân kèo ở  mỗi đoạn làm khác nhau và nhỏ dần từ trên xuống. Đặc biệt,  đoạn kèo cuối  ( từ hàng cột  thứ  ba ra hàng cột thứ  tư) được làm rất công phu theo hình long giáng,  thân kèo cách điệu thân rồng uốn lượn, đuôi kèo hình đầu rồng đỡ mái nhà.

            Ngoài lớp tường ngoài, bên trong còn một lớp vách gỗ bao bọc 3 gian giữa  và một phần chái ở 2 đầu xông của ngôi nhà. Bốn phía có 9 cửa đi vào, vách phía trước có 5 cửa mở vào các  gian thờ,  các cửa còn lại bố trí ở hai bên và phía sau.  Cửa giữa phía trước treo tấm biển Huỳnh  Phủ bằng chữ Hán được sơn son thiếp vàng. Lớp vách nầy chia ngôi nhà làm hai phần: phần bên trong là nơi thờ tự, phần  bên ngoài dùng  để tiếp khách  và  các sinh hoạt hằng ngày. Phần bên trong lại được chia làm hai  bởi một  tấm vách lụa: hai phần phía trước là nơi thờ tự, một phần phía sau là nơi nghỉ ngơi, sinh hoạt của gia đình. Phần phía trước lại có vách ngăn giữa ba gian chính và hai gian phụ hai bên.

 Ba gian chính - phần trung tâm của ngôi nhà là  nơi thờ  tự tôn nghiêm -  nên tất cả những công trình chạm khắc gỗ trên hoành phi, bao lam, khánh thờ đều được sơn son thiếp vàng và cẩn ốc xà cừ, thể hiện lòng tôn kính đối với người đã mất.

            Nhà ông Hương Liêm được xây dựng bằng các loại cây gỗ quí với hoa văn  chạm khắc trên gỗ mà đặc sắc nhất là  hoa văn trên các khung cửa. Hoa văn trên khung cửa thể hiện trong các trám ngang hoặc  trám đứng  và  chia thành thành từng tầng theo các đố ngang, đố dọc.

            Trang trí ở nhà ông Hương Liêm gồm có hoành phi, liễn đối, bao lam, và chạm khắc trên gỗ. Cách trang trí đa dạng theo từng phần của ngôi nhà. Vách gỗ kết hợp giữa chạm lộng, chạm nổi và chạm lưới.  Khung cửa chạm nổi xen với cẩn ốc xà cừ. Liễn áp cột và tranh trong các khánh thờ được cẩn ốc.  Bao lam cột và khánh thờ chạm lộng kết hợp với sơn son thiếp vàng. Ốc xà cừ được cẩn rất tỉ mỉ trên  chữ, hoa lá,  cỏ cây,… đến từng đường nét nhỏ nhặt nhất.

            Tùy theo kiểu chạm khắc mà hoa văn khác nhau. Hoa văn chạm lộng,  ngoài lộng hình còn có lộng chữ Hán  hoặc lộng song. Hoa văn chạm nổi là đa dạng nhất từ hoa trái, cây cỏ đến chim thú, côn trùng ở dưới nước và trên cạn (trúc, hoa sen , hoa súng, hoa mai; lúa, dưa hấu, đào lộn hột (điều), khế, mảng cầu (na), lựu, xoài, nho, ổi, cà; chim, chuột, vịt, gà, tôm càng xanh, cua ,cá, sóc, thỏ, rái cá; dơi, chuồn chuồn, bướm,…

Tinh xảo và công phu nhất là hoa văn ở các trám với kiểu chạm nổi hai lớp Lớp bên trong chạm lộng như lớp lưới, lớp ngoài là chạm nổi. Tùy theo mỗi trám mà lớp trong có hình dạng khác nhau: hình chữ thập, hình mắc lưới, hình tròn, hình cánh hoa… làm nền cho lớp hoa văn chạm nổi bên ngoài. Hoa văn ở từng mảng không đơn thuần mà thường là kết hợp các loài động thực vật trong cùng một chủ đề như: sen – vịt – ếch; chim bói cá (đang ngậm cá) – sen; chim – gà – hoa cỏ; mai – đào; chim – lựu, điều – lựu; chuồn chuồn – cây cỏ hoa – thỏ…Hoa văn chạm nổi còn có kiểu “văn hóa lá” ( thân, dây các loại cây trái, con vật  có hình rồng phụng) như: mai hóa rồng, lựu hóa cá, hóa rồng; dưa hấu hóa rồng, hóa phụng…. Các đồ án  ngoài việc trang trí còn hàm ý cầu mong đa phúc, đa lộc, an khang, thịnh vượng cho gia chủ

            Các liễn áp cột cũng góp phần giúp cho  nội thất ngôi nhà thêm phần cổ kính. Những  Hán tự trên liễn đối được thể hiện rất công phu, không chỉ có chữ mà còn phối hợp  với hoa văn  cẩn ốc theo các kiểu:  hoa văn  và chữ, hoa  văn trong chữ, chữ  trong hoa văn và  còn có cả thi – họa ( liễn đối là thơ và tranh  Nhị Thập Tứ Hiếu).

            Đồ án đa dạng, sắc xảo không chỉ thể hiện sự điêu luyện mà còn có cả tâm huyết của những nghệ nhân bậc thầy đã gửi gắm vào công trình đến từng chi tiết. Những tác phẩm chạm khắc gỗ dầy đặc, chắc chắn nhưng uyển chuyển sinh động không thô kệch và càng nhìn càng thấy được nét tinh xảo trên từng đường nét. Đồ án trang trí còn thể hiện sự phóng khoáng của các bậc thầy tài hoa trong việc kết hợp đề tài dân dã từ các loài động thực vật quen thuộc trong cuộc sống hằng ngày của cư dân địa phương với các đề tài theo khuôn mẫu đã có như bát bửu, tứ linh, tứ quí, sen hạc, tùng lộc, bách điểu… vào trong tác phẩm chạm khắc của mình.

             Nhà ông Hương Liêm  không  còn được cái dáng vẻ “tươm tất” do thiếu sự đầu tư chăm sóc.  Tuy nhiên nội thất  còn gần  như nguyên vẹn,  là cả một công trình nghệ thuật  của  nghề chạm khắc gỗ,  không thua kém  những ngôi nhà cổ  đẹp hiện còn  của khu vực đồng bằng sông Cửu Long.

              Hơn 100 năm đã trôi qua,  thế sự biết bao thay đổi. Nhà ông Hương Liêm giờ  cũ kỹ rêu phong,  đứng trầm mặc bên cạnh con đường đất đỏ như để minh chứng cho thời vàng son của nó khi xưa. Nó xứng đáng và  cần được bảo tồn cho hậu thế./

                NGUYỄN THỊ THU THỦY

         

 

 

25/09/2012 12:00 SAĐã ban hànhDi tích lịch sử văn hóa1049No
Đình Tân Hưng và mộ Huỳnh Văn ThiệuĐình Tân Hưng và mộ Huỳnh Văn Thiệu

Đình Tân Hưng hiện tọa lạc tại xã Châu Hưng, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Từ Tp. Bến Tre theo Quốc lộ 60 đến ngã tư huyện Châu Thành (8km), quẹo phải theo Đường tỉnh 883 đến cầu An Hóa (khoảng 9km), đến ngã ba xã Châu Hưng (khoảng 5km), rẽ phải theo đường đá đỏ khoảng 2,5km là đến đình, mộ Ông Huỳnh Văn Thiệu cách đình khoảng 1km về hướng Tây.

Đình được xây dựng trên mảnh đất rộng 2.100m2 gồm 3 ngôi nhà ba gian, hai chái liền nhau theo kiểu “sắp đọi”, mái lợp ngói âm dương. Tất cả vì kèo, xuyên, trính, bao lam, thành vọng, hoành phi, câu đối, long trụ, khánh thờ đều được làm bằng gỗ quý và chạm khắc hoa văn phong phú như chim, hoa lan, hoa cúc, trúc, lưỡng long tranh châu, kỳ lân,…đều được sơn son thếp vàng.

Vào khoảng đầu thế kỷ XIX, ông Huỳnh Văn Thiệu (ông tổ họ Huỳnh là Huỳnh Văn Sách bỏ xứ Huế vào Gia Định và định cư ở đất này) đứng ra tập hợp cư dân để khai phá đất đai và chống thú dữ. Dần dần đời sống ổn định, mọi người sống quây quần bên nhau thành thôn xóm. Ông từ chối ra làm việc làng mà tập hợp nhân dân, xây dựng lực lượng theo phong trào khởi nghĩa của Trương Định. Khi Trương Định hy sinh, ông về quê chiêu mộ nghĩa quân khởi nghĩa chống Pháp. Bọn tay sai báo cho Pháp bắt ông, dùng mọi cách uy hiếp nhưng ông vẫn giữ vững khí tiết. Cuối cùng chúng chặt đầu ông tại Bàu Sấu ấp Hưng Nhơn, xã Châu Hưng. Đến năm 1905,  nhân dân làng Tân Hưng cùng đóng góp xây dựng ngôi đình làng (đình Tân Hưng ngày nay), phong ông Hùynh Văn Thiệu làm Thành Hoàng bổn cảnh.

 Trải qua hai cuộc kháng chiến, nhân dân Tân Hưng đã có những người con ưu tú theo Đảng, góp phần giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước nổi bật có ông Huỳnh Văn Phát tức Huỳnh Tấn Phát (cháu cố của ông Huỳnh Văn Thiệu), nguyên Chủ tịch Chánh phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận tổ quốc Việt Nam. Khi ông mất, dân làng Tân Hưng đã rước ảnh ông về thờ tại đình Tân Hưng. Những hình ảnh, tư liệu, hiện vật liên quan đến cuộc đời hoạt động cách mạng của ông cũng được trưng bày trang trọng tại đây. Với ý nghĩa đó, đình Tân Hưng đã được UBND tỉnh Bến Tre ra quyết định công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh về lưu niệm danh nhân bằng quyết định số 1698/QĐ-UB ngày 12 tháng 4 năm 2001.

Trần Hoàng Huấn

25/09/2012 12:00 SAĐã ban hànhDi tích lịch sử văn hóa360No
Các trận đánh tại ngã tư Thạnh TânCác trận đánh tại ngã tư Thạnh Tân

          Từ Tp. Bến Tre theo Quốc lộ 60 đến ngã tư huyện Châu Thành (8km), quẹo phải theo Đường tỉnh 883 đến thị trấn Bình Đại (khoảng 40km), tiếp tục đi thẳng đến ngã tư Thạnh Phước (khoảng 7km), đi thẳng khoảng 1km nữa là đến di tích.

Qua 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, nhân dân xã Thạnh Phước, huyện Bình Đại đã chiến đấu anh dũng, đánh hàng trăm trận lớn nhỏ, phá rã hệ thống kếm kẹp của địch, bắt sống và tiêu diệt hàng ngàn tên, thu nhiều vũ khí và phương tiện chiến đấu, tiêu biểu có các trận đánh: Trận diệt tên thiếu úy Từ Văn Khoa (6-1952); Trận đánh bót PC (12-11-1954):  ta chiếm gọn bót, tiêu diệt một trung đội, bắt sống một trung đội, thu toàn bộ vũ khí và quân trang quân dụng; Trận đánh đồn (04-5-1963): ta chiếm gọn đồn, tiêu diệt một tiểu đội lính trong đó có tên đồn trưởng, thu 30 súng các loại, một máy PRC 10 và một tấn đạn; Trận bao vây đồn ngã tư Thạnh Tân (25.12 âl 1964); buộc địch phải rút chạy về chi khu Bình Đại; Trận chống càn (11.01.1966): ta tiêu diệt 08 tên, làm bị thương 21 tên địch; Trận phục kích diệt đại đội Bảo An (04.11.1969): ta tiêu diệt 40 tên địch (có 2 sĩ quan chỉ huy), 20 tên bị thương, bắt sống 7 tên, thu 22 súng các loại, 5 máy PRC 25; Trận diệt chốt phòng vệ (1973): ta tiêu diệt được tên Nguyễn Văn Lâm, trưởng ấp và tên Phan Văn Hoành, phòng vệ thu 12 súng các loại.

       Những chiến thắng này khẳng định niềm tin, sức mạnh của nhân dân xã Thạnh Phước nói riêng và huyện Bình Đại nói chung trong 2 cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại.  Ngày 20 tháng 4 năm 2001, UBND tỉnh Bến Tre ra quyết định số 1698/QĐ- UB công nhận di tích Các trận đánh tại ngã tư Thạnh Tân là di tích cấp tỉnh về loại hình lịch sử cách mạng.

         Trần Hoàng Huấn

25/09/2012 12:00 SAĐã ban hànhDi tích lịch sử văn hóa310No
Cuộc thảm sát 129 người dân vô tội của Mỹ- Ngụy ở ấp Sùng Tân, xã Tân Thanh Tây, huyện Mỏ Cày Bắc và các ấp Hưng Nhơn, Thanh Điền, xã Hưng Khánh Trung A, huyện Chợ Lách.Cuộc thảm sát 129 người dân vô tội của Mỹ- Ngụy ở ấp Sùng Tân, xã Tân Thanh Tây, huyện Mỏ Cày Bắc và các ấp Hưng Nhơn, Thanh Điền, xã Hưng Khánh Trung A, huyện Chợ Lách.

      Từ Tp. Bến Tre theo Quốc lộ 60, qua cầu Hàm Luông đến ngã tư chợ Xếp rồi rẽ phải theo Tỉnh lộ 882 đến chợ Ba Vát (khoảng 8km), tiếp tục đi thẳng khoảng 1km đến ngã ba Cây Trâm, rẽ trái khoảng 2km là đến di tích.

Thảm sát lần 1.

 Vào khoảng 14 giờ chiều ngày 22-1-1969, dưới sự chỉ huy của tên quận trưởng tỉnh Đôn Nhơn Lý Xuân Thu, cùng với bọn bảo an quận, kết hợp với lực lượng sư đoàn 7, trung đoàn l0, chia thành hai cánh quân, tiến hành càn quét vào ấp Hưng Nhơn, xã Hưng Khánh Trung (nay là xã Hưng Khánh Trung A). Cánh thứ nhất từ chi khu Đôn Nhơn đổ bộ lên xã Tân Thanh Tây, kéo đến ấp Sùng Tân sau đó nghi trang rút quân đánh lạc hướng ta, cánh thứ hai đổ thẳng lên ấp Tân Hưng nhưng mũi tấn công chính là ấp Hưng Nhơn. Cuộc thảm sát kéo dài 4 ngày (từ ngày 22 - 25/1/1969), làm 68 người dân vô tội bị giết trong đó có 3 người mất tích, 10 người bị thương, 11 người bị bắt.

Thảm sát lần 2.

Vào ngày 15-7-1969, được sự chỉ huy của tên quận trưởng Đôn Nhơn - Lý Xuân Thu, chúng sử dụng lực lượng Bảo an quận, kết hợp với bọn lính của tiểu khu Kiến Hòa (Bến Tre) để dọn đường cho chúng đổ quân càn quét, tạo thành hai mũi tấn công vào ấp Thanh Điền. Cuộc thảm sát kéo dài 3 tiếng đồng hồ làm 29 người chết, 15 người bị thương và 13 người bị bắt.

Thảm sát lần 3.

Vào năm 1973, ấp Sùng Tân, xã Hưng Khánh Trung (nay là xã Tân Thanh Tây) vào thời kỳ nẩy vùng giải phóng được mở rộng. Mỹ- Ngụy cho đây là vùng chứa chấp Việt cộng để xây dựng, củng cố lực lượng cách mạng nên chúng dùng bom pháo hủy diệt hàng trăm ha vườn dừa, cây ăn trái, nhà cửa, làm chết 32 người.

Để ghi lại sự kiện đau thương này, UBND tỉnh Bến Tre công nhận sự kiện này là di tích cấp tỉnh thuộc loại hình lịch sử cách mạng vào ngày 20 tháng 4 năm 2001 bằng quyết định số 1698/QĐ- UB.

TRẦN HOÀNG HUẤN

25/09/2012 12:00 SAĐã ban hànhDi tích lịch sử văn hóa336No
Đình Phú Tự và cổ thụ Bạch MaiĐình Phú Tự và cổ thụ Bạch Mai

Từ Tp. Bến Tre theo đường Nguyễn Đình Chiểu đến ngã ba Phú Hưng (khoảng 2,5km), tiếp tục đi thẳng đến ngã ba vào ấp Phú Hào (khoảng 200m) rẽ trái vào khoảng 600m là đến di tích. Di tích nằm bên trái.

 Đình Phú Tự nằm ở ấp Phú Hào, xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre. Đình thờ Thành hoàng bổn cảnh được phong sắc vào năm 1910 (Khải Định nhị niên). Đình có tổng diện tích đất là 9695m2, được xây theo kiểu chữ Tam, các gian đình cất theo kiểu tứ trụ (4 cột cái giữa các gian làm cao lên), mái liền kề nhau, lợp ngói âm dương, nền lót gạch tàu…Cột, kèo làm bằng gỗ căm xe và gõ đỏ. Đình chính gồm 3 gian: võ ca, nhà thính và nhà chánh. Các bàn thờ, hương án của đình Phú Tự được làm bằng gỗ quý cẩn ốc xà cừ. Hoành phi, liễn đối, câu đối,…ở đình Phú Tự đều viết bằng chữ Hán và sơn son thếp vàng. Tại sân đình Phú Tự có một cây to, thân sần sùi, cành lá sum suê có lẽ đã hàng trăm năm tuổi tên gọi là Bạch Mai hay Thần mai. Ngoài ra còn một tên khác nữa là Nam Mai, một giống mai mà tương truyền do ông Mạc Cửu (người có công khai phá đất Hà Tiên) mang từ quê hương của mình ở tận miền Nam Trung Quốc sang trồng ở Gia Định (nên được gọi là Nam Mai). Hàng năm, ngoài các lễ cúng Kỳ yên, Thượng điền, Hạ điền, Chạp miếu; đình Phú Tự còn là nơi nhân dân tổ chức các lễ hội văn hóa như Tết Nguyên tiêu, Ngày thơ Việt Nam, Giỗ Tổ Hùng Vương, thương binh liệt sĩ,…Bên cạnh đó, hiện nay đình Phú Tự còn là tụ điểm sinh hoạt giao lưu văn hóa của giới nghệ sĩ trong và ngoài tỉnh. Với những ý nghĩa đó, ngày 10 tháng 01 năm 2008, UBND tỉnh Bến Tre ban hành quyết định số 75/QĐ–UBND công nhận đình Phú Tự và cổ thụ Bạch Mai (ấp Phú Hào, xã Phú Hưng, thành phố Bến Tre) là di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh về kiến trúc nghệ thuật và tín ngưỡng dân gian.

TRẦN HOÀNG HUẤN

25/09/2012 12:00 SAĐã ban hànhDi tích lịch sử văn hóa356No
Khu lưu niệm Đốc binh Phan Ngọc Tòng Khu lưu niệm Đốc binh Phan Ngọc Tòng

UBND tỉnh Bến Tre có quyết định số 193/QĐ-UBND ngày 23 tháng 01 năm 2009 công nhận Khu lưu niệm Đốc binh Phan Ngọc Tòng (xã An Hiệp, huyện Ba Tri) là di tích cấp tỉnh về lưu niệm danh nhân. Từ Tp. Bến Tre theo đường tỉnh lộ 885 đến ngã tư Bình Tây khoảng 35km, rẽ phải theo đường liên xã An Bình Tây-An Hiệp khoảng 2km là đến di tích. Di tích nằm bên phải.

 Năm 1867, quân Pháp chiếm Bến Tre, phong trào chống giặc nổi lên khắp nơi trong tỉnh. Mặc dù chỉ là hương giáo làng, mẹ vừa mới mất, trên đầu còn chít khăn tang, nhưng là người yêu nước kiên cường, Phan Ngọc Tòng tạm lãnh chức Đốc binh do nhân dân đề cử đứng lên chống Pháp. Cụ chiêu mộ nghĩa binh, mọi người theo cụ rất đông với vũ khí thô sơ chỉ có gươm giáo, mã tấu. Vừa nhận chức được mấy ngày thì giặc Pháp hành quân về chiếm đóng Ba Tri. Đêm đến chúng co cụm lại đóng quân trên gò cát có tên là Giồng Gạch (xã An Hiệp ngày nay). Đêm ấy, Phan Ngọc Tòng chỉ huy nghĩa quân tấn công Giồng Gạch, đánh giáp lá cà với địch bằng khẩu lệnh xung phong là “hè hè” để uy hiếp tinh thần địch. Phan Ngọc Tòng cùng với nhiều nghĩa quân khác đã hy sinh. Vì trận này nghĩa quân chết gần hết nên dân làng thường gọi bãi chiến ở Giồng Gạch là Gò Trụi và trận đánh này là trận Giặc Hè. Về sau hàng năm vào ngày này dân làng An Bình Đông vẫn tổ chức ngày giỗ hội và lễ cầu hồn để tưởng nhớ những người chiến sĩ đã hy sinh.

 

Về ngày sinh và ngày mất của Đốc binh Phan Ngọc Tòng cho đến bây giờ vẫn chưa có tài liệu nào ghi rõ. Chỉ biết cụ là người ở làng An Bình Đông, tổng Bảo An (nay thuộc thị trấn Ba Tri). Nếu dựa vào bài số 5 của 10 bài thơ Điếu Ba Tri Đốc Binh Phan Công trận vong của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu thì ta có thể đoán được cụ sinh năm 1818 (không rõ ngày tháng) và hy sinh đêm mùng 6 rạng mùng 7 tháng Giêng năm Mậu Thìn (tức ngày 30 tháng 1 năm 1868). Hài cốt cụ được dân làng mang về chôn cất tại quê nhà (làng An Bình Đông, nay thuộc thị trấn Ba Tri).  Ngày 12-4-2007, UBND huyện Ba Tri kết hợp Sở VHTT tỉnh (nay là Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch) đã tổ chức cải táng hài cốt cụ về Gò Trụi, ấp Giồng Gạch, xã An Hiệp, nơi cụ mất. Năm 1999, Nhà nước đã xây dựng nhà bia khang trang trên nền ngôi miếu cũ để thờ cúng Phan Ngọc Tòng và những chiến sĩ đã hy sinh trong trận Gò Trụi.

 

Trần Hoàng Huấn

25/09/2012 12:00 SAĐã ban hànhDi tích lịch sử văn hóa315No
1 - 30Next
SỞ VĂN HÓA THỂ THAO VÀ DU LỊCH TỈNH BẾN TRE
Địa chỉ: Số 108/1, Đường 30/4, Phường 4, Thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre
Điện thoại: 0275.3822233 Fax: 0275.3825817 Email: banbientap.svhttdl@bentre.gov.vn
http://svhttdl.bentre.gov.vn